Chủ đề

(Kinh tế) - Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi và đánh bắt thủy sản đang trên đà tăng trưởng với tốc độ khá nhanh, kim ngạch xuất khẩu đến các thị trường quốc tế liên tục tăng lên, tuy nhiên bên cạnh đó cũng xuất hiện rất nhiều lô hàng, đợt hàng liên tiếp bị trả về do không đảm bảm các tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm hoặc bị áp mức thuế quá cao do chính sách bảo hộ của một số nước, điều đó cho thấy ngành thủy sản cần phải chú trọng hơn về chất sau những khởi sắc về lượng thời gian vừa qua.

Ấn tượng về sản lượng, cảnh báo về chất lượng và rủi ro pháp lý

Ngành thủy sản của Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc trong 20 năm trở lại đây. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản đã tăng trưởng nhanh với mức tăng bình quân gần 15%/năm, từ mức thấp 550 triệu USD năm 1995 lên 8,3 tỷ USD năm 2017. Tăng trưởng xuất khẩu thủy sản đã góp phần vào quá trình tăng trưởng của ngành nông nghiệp nói riêng và nền kinh tế của cả nước nói chung. Theo số liệu mới cập nhật từ Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, giá trị xuất khẩu thủy sản 3 tháng đầu năm 2018 ước đạt gần 1,5 tỷ USD, tăng hơn 30% so với cùng kì năm trước. Trong đó tháng 2 là tháng cao điểm với sản lượng khai thác đạt 496,9 nghìn tấn, tăng 1,2% so với cùng kỳ năm 2017, khai thác biển ước đạt 473,9 nghìn tấn, tăng 2,2%; khai thác nội địa ước đạt 23 ngàn tấn. Về nuôi trồng thủy sản, tổng sản lượng 3 tháng đầu năm 2018 ước đạt gần 800 ngàn tấn, tăng 5,3% so với cùng kỳ năm 2017. Các thị trường tiêu thụ thủy sản lớn nhất của Việt Nam lần lượt là EU, Nhật Bản, Hoa Kỳ và Trung Quốc. Mặc dù những thống kê về sản lượng xuất khẩu thủy sản 3 tháng đầu năm là rất ấn tượng, tuy nhiên bên cạnh đó vào thời điểm hiện tại chúng ta cũng đang gặp phải những rắc rối liên quan đến chất lượng cũng như rủi ro về pháp lý của mặt hàng này.

Những con số ấn tượng về sản lượng không làm giảm đi nỗi lo về chất lượng của mặt hàng thủy sản

Những con số ấn tượng về sản lượng không làm giảm đi nỗi lo về chất lượng của mặt hàng thủy sản

Thông tin từ Văn phòng Chính phủ cho biết, trong thời gian qua, tình hình các lô hàng xuất khẩu bị cảnh báo vi phạm các quy định về an toàn thực phẩm tại các thị trường nhập khẩu mặc dù đã giảm những vẫn ở mức cao, ảnh hưởng không tốt đến hình ảnh, uy tín sản phẩm thủy sản Việt Nam trên thị trường thế giới, làm giảm hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu thủy sản và tác động tiêu cực đến đời sống của ngư dân và người nuôi trồng thủy sản. Theo Tổng cục Thủy sản, hiện nay tổn thất sau thu hoạch của các ngành nghề khai thác hải sản trung bình khoảng 15 – 25%, công tác xử lý cá trước khi bảo quản và bảo quản cá trên tàu còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng chất lượng sản phẩm. Không những vậy, vào tháng 3 vừa qua, Bộ Thương mại Hoa Kì (DCO) đã tiếp hành áp thuế chống bán phá giá kỉ lục lên mặt hàng các tra phi lê đông lạnh của Việt Nam một cách khá phi lý, khiến không ít tập đoàn xuất nhập khẩu thủy sản của chúng ta phải lao đao. Điều đó cho thấy việc đảm bảo về an toàn chất lượng sản phẩm và các biện pháp phòng vệ chính đáng về mặt pháp lý vẫn là một khâu khá yếu đối với xuất khẩu thủy sản hiện nay.

Tiếp tục “điếc không sợ súng” hay tự hoàn thiện để bảo vệ mình?

Kể từ khi mở rộng thị trường xuất khẩu thủy sản sang các nước như Hoa Kì, EU, Nhật Bản, đã rất nhiều lần chúng ta bị phía đối tác trả lại hàng không đảm bảo chất lượng, không khai thác đúng quy trình hoặc bị ép giá, đánh thuế thiếu công bằng. Có thể nói những vấn đề trên đã tồn tại rất nhiều năm và chúng ta vẫn “điếc không sợ súng”, vẫn chưa có những phương hướng cải thiện, từ phương thức đánh bắt, nâng cao chất lượng sản phẩm hay có đội ngũ chuyên viên pháp luật đủ năng lực để bảo vệ quyền lợi người nông dân và các tập đoàn. Có vẻ như tất cả chỉ dừng lại ở mặt hình thức mà chưa đi vào chiều sâu.

Rõ ràng trong thời điểm hiện tại, nếu không tự đứng lên hoàn thiện và bảo vệ mình, Việt Nam sẽ dễ dàng bị lép vế trước những ông lớn của ngành thủy sản thế giới như Nhật Bản, Trung Quốc, các nước Nam Mỹ và đánh mất các thị trường lâu năm, đầy triển vọng như EU hay Mỹ. Chúng ta thấy, có hai vấn đề cần phải giải quyết ngay trước mắt, thứ nhất đó là bảo đảm các tiêu chuẩn an toàn và giảm giá trị thâm hụt của sản phẩm sau khi đánh bắt cũng như trong quá trình xuất khẩu, thứ hai đó là Hiệp hội thủy sản Việt Nam cần phải chủ động có các biện pháp bảo vệ mình trước những chính sách áp thuế không công bằng và mang tính bảo hộ cao của một số nước.

Đối với công tác bảo đảm chất lượng sản phẩm, trước hết Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần phải cần rà soát, hoàn thiện các cơ chế, chính sách pháp luật trong quản lý an toàn thực phẩm thủy sản xuất khẩu theo hướng tạo điều kiện tối đa cho người dân, doanh nghiệp và đáp ứng đầy đủ yêu cầu của các thị trường xuất khẩu. Bên cạnh đó phải quản lý chặt chẽ việc cấp phép lưu hành thuốc thú y, chất xử lý, cải tạo môi trường nuôi trồng thủy sản; thường xuyên tổ chức rà soát, loại bỏ các sản phẩm kém chất lượng, không an toàn ra khỏi danh mục các sản phẩm được phép lưu hành. Đồng thời nghiên cứu, cải tiến công nghệ sản xuất giống thủy sản để chủ động nguồn giống bảo đảm chất lượng; vận động, hướng dẫn người nuôi, doanh nghiệp áp dụng biện pháp nuôi trồng thủy sản theo hướng bền vững. Không những vậy còn phải tiến hành các biện pháp kiểm soát chặt chẽ hóa chất kháng sinh nhập khẩu sử dụng trong công nghiệp nhưng bị cấm sử dụng trong sản xuất kinh doanh thủy sản; rà soát, cập nhật quy định về mức giới hạn tối đa cho phép tồn dư thuốc thú y, hóa chất trong thực phẩm, quy định về sử dụng phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm phù hợp với hướng dẫn của Ủy ban Tiêu chuẩn thực phẩm quốc tế Codex. Các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu thủy sản cần kết nối, xây dựng các vùng nguyên liệu thủy sản đảm bảo yêu cầu của thị trường nhập khẩu và truy xuất được nguồn gốc sản phẩm.

Đối với việc phòng ngừa rủi ro pháp lý và bảo vệ sản phẩm khỏi các chính sách bảo hộ thương mại của nước ngoài, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) cần tích cực phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công Thương đẩy mạnh hoạt động đàm phán song phương, đa phương, ký kết các Hiệp định, thỏa thuận hợp tác, công nhận lẫn nhau với nước nhập khẩu, tạo cơ chế xử lý kịp thời vướng mắc, thúc đẩy xuất khẩu thủy sản. Hiệp hội VASEP phải liên tục cập nhật thông tin, thông báo cho doanh nghiệp về thay đổi trong chính sách nhập khẩu, tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, yêu cầu kiểm dịch, điều kiện nhập khẩu của các nước đối với hàng thủy sản bởi đã có không ít lần vì chậm cập nhật các thông số này mà hàng tấn sản phẩm của chúng ta bị trả về, gây thiệt hại hàng triệu USD.

Hơn nữa, có một thực trạng khá đáng buồn là hiện nay đội ngũ luật sư trợ giúp pháp lý cho các doanh nghiệp thủy sản có trình độ, am hiểu về lĩnh vực thương mại quốc tế còn khá mỏng, thậm chí nhiều doanh nghiệp còn chưa xem trọng, có phần ỷ lại, trông chờ vào VASEP hoặc Bộ NN&PTNT hay Bộ Công thương, đến khi xảy ra các sự kiện pháp lý bất lợi với các đối tác xuất khẩu như trong tháng 3 vừa qua, không ít doanh nghiệp đành ngậm bồ hòn làm ngọt, chấp nhận giá cả sản phẩm và chỉ số chứng khoán niêm yết của công ty sụt giảm, bởi vậy các doanh nghiệp có thể tự thân hoặc thông qua VASEP tự thành lập cho mình một đội ngũ luật sư về thương mại quốc tế có đủ trình độ, năng lực để phòng ngừa những rủi ro không đáng có và bảo vệ quyền lợi hợp pháp, sự đầu tư đó hoàn toàn hợp lý và cực kì bức thiết.

Sau giai đoạn đổi mới đến nay, ngành thủy sản Việt Nam đã có thâm niên gần 30 năm, một quãng thời gian không quá dài những cũng không hề ngắn, rõ ràng để luôn giữ vị trí, vai trò quan trọng trong việc đóng góp cho nền kinh tế, thủy sản cần phải có những bước chuyển mình mạnh mẽ hơn nữa, và công việc bức thiết trước mắt đó là phải giữ vững sự tăng trưởng về sản lượng và đảm bảo về chất lượng trong kim ngạch xuất khẩu.

(Theo Bút Danh)

Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về [email protected]
Thích và chia sẻ bài này trên