Chủ đề

Nguyên nhân chiến thắng

(An Ninh Quốc Phòng) - Từ lúc Mỹ thất bại trước Việt Nam, hầu hết giới nghiên cứu, các nhà sử học, nhà quân sự, nhà chính trị học khắp Đông – Tây khi tìm hiểu về lịch sử Hoa Kỳ, về nước Mỹ, về quân đội Hoa Kỳ, và về cuộc chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam đều đặt ra một nghi vấn, một câu hỏi: Tại sao Mỹ thua Việt Nam? Tại sao một xứ sở nhỏ bé và được cho là “nhược tiểu” như Việt Nam có thể thắng được đại cường quốc Hoa Kỳ?

Xem lại các kỳ trước:

Với 58 vạn quân tinh nhuệ, kỷ luật, có kinh nghiệm chiến trường khắp năm châu, với các tướng lĩnh, sĩ quan dày dặn kinh nghiệm khắp thế giới qua Thế chiến II và chiến trường Triều Tiên, từng chiến thắng hầu hết các thế lực quân sự hùng mạnh, thiện chiến từ Á sang Âu. Một quốc gia trong lịch sử gần 200 năm chưa bao giờ nếm mùi thua cuộc. Một lực lượng không quân vô địch, trăm trận trăm thắng, có sức mạnh áp đảo, với máy bay chiến lược B-52 tối tân nhất thế giới.

Họ dùng gần 60 vạn quân trong nội địa Việt Nam, và cả nhiều căn cứ quân sự bên ngoài và chung quanh Việt Nam, tổng cộng gần 1 triệu thực binh Mỹ, rồi cả quân ngụy và quân chư hầu. Với một trình độ phát triển cao hơn nhiều bậc. Với một trình độ khoa học kỹ thuật vượt trội, áp đảo, với một sức mạnh quân sự, ngân sách quốc phòng, khả năng chi tiêu vũ khí, công nghệ chiến tranh vượt trội. Với những vũ khí hiện đại, tối tân, kể cả vũ khí sinh học hủy diệt thiên nhiên, môi trường, mầm sống, sinh vật, cây cỏ, con người, hủy rụi những rừng già thiên nhiên tồn tại hàng ngàn năm để Việt Cộng không thể ẩn thân. Để lại di hại, di chứng tàn khốc đến ngày nay và có thể ngàn năm sau. Với một nền văn minh công nghệ và trình độ sản xuất vượt bậc và bỏ xa Việt Nam.

Họ huy động một lực lượng không quân đánh đâu thắng đó, chưa từng chiến bại, với đủ mọi loại bom, từ bom chùm, bom bi đến bom Napalm rải thảm lên mảnh đất nhỏ bé, với hơn 8 triệu tấn bom, gấp gần 3 lần tổng số bom mà các phe rải xuống trái đất trong Thế chiến II nói riêng và trong lịch sử chiến tranh của nhân loại nói chung.

Trong 10 năm (1961-1971), quân đội Mỹ đã rải khoảng 75 triệu lít chất độc hóa học, trong đó phần nhiều là chất độc da cam, xuống hơn 10% diện tích đất và gần nửa diện tích rừng ở Việt Nam. Tất cả số bom và chất độc hóa học đó đều dồn lại dội xuống một mảnh đất nhỏ bé, nghèo nàn, lạc hậu, một quốc gia có tổng diện tích thua nhiều tiểu bang của Mỹ.

Nhà nghiên cứu khoa học tự nhiên và hoạt động môi trường Sarah DeWeerdt, cộng tác viên thường trực của Worldwatch Institute (Viện quan sát thế giới về môi trường) ở Washington (Mỹ), trong bài viết “Modern warfare equals environmental damage” (Các loại hình chiến tranh mới chính là sự hủy hoại môi sinh), đăng trên báo USA Today số tháng 1 năm 2008, đã cho biết sự tàn phá môi trường rộng lớn của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam là một trong những nguyên nhân chính mà tiếng Anh có thêm một thuật ngữ mới: “Ecocide” (diệt sinh thái, tương tự thuật ngữ “Genocide” là diệt chủng con người).

Họ bỏ ra hàng tỷ USD lập ra những quân trường rộng lớn, hoành tráng, quy mô, mô phỏng địa lý, khí hậu, thời tiết, phong thổ, rừng cây Việt Nam, nhằm đối phó với chiến tranh du kích của Việt Nam. Xây dựng những cơ quan nghiên cứu, những nhà máy sản xuất những vũ khí đặc thù phù hợp với chiến trường Việt Nam để chống lại con người Việt Nam. Họ làm đủ mọi cách có thể nghĩ ra, họ không bỏ qua một sơ hở nào, một yếu tố nào, một chi tiết nhỏ nào, họ tận dụng mọi lĩnh vực từ chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao, văn hóa, tâm lý chiến v.v. đặc biệt là tận dụng ưu thế vượt trội về công nghệ và công nghiệp quân sự. Họ tận dụng mọi lợi thế về khoa học phục vụ chiến tranh. Với những lãnh đạo, tướng lĩnh, chuyên viên tài năng, chuyên nghiệp, làm việc một cách bài bản, khoa học, dưới tay là một đội quân nhà nghề không ai địch nổi.

Họ dùng chiến tranh điện tử với Hàng rào điện tử McNamara, “cây nhiệt đới”. Dùng chiến tranh hóa học với những chất độc sinh học, chất độc diệt rừng, hủy diệt dần mòn con người, môi trường, thiên nhiên, nhằm đè bẹp sức kháng cự của người Việt Nam, và dùng chất độc khai quang hủy diệt các rừng già, cây cỏ, gây khó khăn cho du kích Việt Nam ẩn thân, mai phục.

Vẫn chưa hài lòng với 2 loại hình chiến tranh điện tử và hóa học, Hoa Kỳ còn tiến hành thêm một loại hình chiến tranh công nghệ cao là chiến tranh khí tượng. Đây là một loại hình chiến tranh mà họ đã sử dụng những công nghệ tiên tiến, tối tân nhất cùng những thiết bị hiện đại nhất với mục đích làm đảo lộn, hủy diệt sinh thái, thiên nhiên, gây lụt lội, tắc ách ở trên những tuyến của con đường huyết mạch Trường Sơn chi viện từ Bắc vào Nam…. Nhưng rồi họ vẫn thua Việt Nam.

Học viện quân sự West Point nổi tiếng của Mỹ những năm sau mốc thời gian 1975 đã mở nhiều hội thảo khoa học, nghiên cứu, phân tích, tranh luận từ các hiệu trưởng, cựu hiệu trưởng, giáo sư, giảng viên và cựu giảng viên từng phục vụ trong trường, và những người thỉnh giảng được mời từ bên ngoài, thậm chí từ ngoài nước Mỹ. Họ trình bày các nghiên cứu cá nhân, tham gia phát biểu, hội luận, xem xét, thẩm định, đánh giá từng chiến dịch một, từng thời điểm một, và từng góc độ, từng khía cạnh, để giải đáp câu hỏi hóc búa: Tại sao chúng ta thua Việt Nam? Sau đó họ đã phải chỉnh sửa, cập nhật, thậm chí viết mới lại hoàn toàn, in lại nhiều giáo trình quân sự của trường.

Theo trung tướng Lưu Á Châu, Chính ủy Không quân Quân khu Thành Đô, Trung Quốc, khi bình luận chuyên sâu về chiến tranh Iraq trên tạp chí Khoa Học Quân Sự Không Quân của Trung Quốc năm 2010, thì cách thắng một cuộc chiến tranh trong lịch sử quân sự Hoa Kỳ thường là:

  • Áp đảo ngay từ đầu về chiến tranh thông tin, chiến tranh tâm lý, chiến tranh chính trị, tạo ra một sức ép vô hình, một áp lực khổng lồ vô ảnh.
  • Dùng lực lượng không quân và hải quân chất lượng nhất thế giới về năng lực tác chiến và vũ khí tối tân để chiếm lĩnh vùng biển và vùng trời, gây thêm sức ép, tạo thêm áp lực nghẹt thở vây hãm địch.
  • Dùng chiến tranh công nghệ cao và các lực lượng đặc nhiệm, biệt kích có tính lưu động cao, tác chiến nhanh chóng nhằm tê liệt hóa về quân sự và nhanh chóng chiếm lĩnh đầu não, thủ đô của đối phương. Đồng thời áp dụng chiến tranh tâm lý, trong đó có những thủ đoạn khủng bố tinh thần gây khủng hoảng tâm lý để tê liệt hóa về chính trị, xã hội.

Những chiến lược, chiến thuật trên của Mỹ thì ngoài Việt Nam ra cho đến nay chưa gặp đối thủ. Sở dĩ Mỹ thất bại trước Việt Nam, dựa theo các tiêu chí trên thì có thể xét đến các vấn đề sau đây:

  • Việt Nam cũng giỏi về chính trị, tình báo, tuyên truyền, và có ưu thế về yếu tố “nhân hòa”. Mỹ không thể áp đảo được.
  • Đúng là không quân và hải quân Mỹ đã hoành hành trên khắp vùng trời và vùng biển của Việt Nam và tận dụng ưu thế hỏa lực của họ. Nhưng ý chí của quân dân Việt Nam đã khiến hải quân Mỹ không thể gây sức ép tinh thần. Không quân vô địch của Mỹ thì gặp phải khắc tinh là hệ thống phòng không tinh nhuệ hàng đầu thế giới của Việt Nam mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã tiên liệu và chú trọng xây dựng ngay từ đầu. Không quân Việt Nam không chọi lại Mỹ nhưng các đơn vị phòng không của Việt Nam thì có thể hóa giải không quân của Mỹ.
  • Các biệt đội cơ động, lực lượng đặc biệt, biệt kích thiện chiến tinh nhuệ của họ đều bó tay trước địa hình hiểm trở của Việt Nam, vốn là một ưu thế lớn cho lực lượng du kích bản địa, và thực tế là du kích miền Nam còn cơ động và nhanh nhẹn hơn biệt kích Mỹ nhiều, nhờ trang bị nhẹ và thông thạo đường đi nước bước. Mỹ không có cách bình định được miền Nam, không tiêu diệt được quân Giải phóng, không chiếm được những vùng giải phóng, vì vậy họ không thể tập trung lực lượng lớn để mở một cuộc tổng tấn công ở miền Nam, và càng không thể “mơ giữa ban ngày” về chuyện Bắc tiến, hay hoang đường hơn: Tiến vào Hà Nội chiếm lấy thủ đô của Việt Nam ở tận ngoài Bắc. Họ nhiều lần đem các loại máy bay oanh tạc tối tân nhất ra tàn phá Hà Nội, muốn gây tê liệt hóa đầu não của Việt Nam, nhưng các phi vụ đó đều bị đánh bại phải rút lui về sau những tổn thất nặng nề. Và dân tộc Việt không như những dân tộc khác, Mỹ càng gây tội ác để khủng bố tinh thần thì dân Việt càng bất khuất và căm thù giặc hơn, chẳng những không sợ mà càng nuôi giấu lực lượng kháng chiến, hối thúc con em, con cháu ra bưng biền theo Mặt Trận đánh giặc.

Việt Nam không chỉ đánh bằng quân đội như những đối thủ khác của Mỹ. Việt Nam tiến hành chiến lược chiến tranh nhân dân và kết hợp nhuần nhuyễn khôn khéo với chiến thuật du kích. Đánh trên cả 3 mặt trận: Chính trị, quân sự, ngoại giao. Với phương châm tấn công “2 chân, 3 mũi, 3 vùng”. Hai chân: Chính trị và quân sự. Ba mũi giáp công: Chính trị, quân sự, binh vận. Ba vùng chiến lược: Nông thôn, thành thị, miền núi.

Nguyên nhân sâu xa

Quân đội Mỹ thắng khắp thế giới mà chỉ thua trên đất Việt chính là vì người Việt có một nền văn hóa căn bản vững chắc lâu đời, đặc biệt là văn hóa giữ nước. Văn hóa, tư tưởng này được hun đút từ lòng yêu nước truyền thống của dân Việt truyền lại từ ngàn xưa.

Quân Mỹ không hẳn thua vì không thiện chiến bằng, không dũng cảm bằng, không trung thành bằng. Cũng không thua vì du kích Việt Nam, hay thua vì các khu rừng nhiệt đới ở Đông Dương, hay vì ruồi muỗi côn trùng, vì khí hậu nhiệt đới khắc nghiệt dễ gây bệnh tật cho người ngoài.

Mỹ thua Việt Nam vì dân tộc Việt Nam có một căn bản gốc rễ, cội nguồn văn hóa vững bền và điều này đã tạo ra một ý chí sắt thép cho từng người lính và người dân chống quân xâm lược. Đây là những ý chí sắt đá mà không một chương trình tâm lý chiến nào có thể hạ gục nổi.

Một số học giả, nhà nghiên cứu lâu nay tin rằng người Việt thắng Mỹ là vì khí hậu, phong thổ, vì du kích tài ba, vì các chiến sĩ biệt động liều lĩnh không sợ chết, vì tướng giỏi, vì lãnh đạo tài đức, vì thiên tài lãnh đạo chính trị của chủ tịch Hồ Chí Minh, vì thiên tài chỉ đạo quân sự của đại tướng Võ Nguyên Giáp…. đều không đúng hoàn toàn.

Việt Nam thắng Mỹ vì biết vận dụng lòng yêu nước của đại khối dân tộc, sử dụng vũ khí yêu nước đó chống lại quân xâm lược Mỹ. Vũ khí yêu nước đó có được chính là từ văn hóa giữ nước giữ làng sâu xa từ ngàn xưa, sau ngàn năm dựng nước và giữ nước, từ một chủ đạo dân tộc sâu sắc từ cội nguồn gốc rễ ăn sâu vào tim óc từng người con đất Việt. Đó là bản sắc dân tộc Việt Nam, một nền văn hóa chủ đạo cơ bản gốc rễ vốn đã mạnh mẽ, vững chắc từ ngàn xưa.

Bác Hồ đã đúc kết văn hóa đó thành câu danh ngôn: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước!”

Trong Đại Hội Đảng lần thứ 2, chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói kỹ hơn: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”.

Những chiếc bánh nuôi quân

Những chiếc bánh nuôi quân

Những chiếc bánh nuôi quân

Những chiếc bánh nuôi quân

Ý nghĩa chiến thắng

Từ một đất nước bị các quân đội thực dân xâm chiếm, từ một dân tộc bị nô lệ, Việt Nam đã giành lại hoàn toàn nền độc lập dân tộc một cách trọn vẹn sau gần bao nhiêu thế kỷ chiến tranh, mất nước, chia cắt, bị mất gần nửa lãnh thổ, và trở thành một quốc gia hoàn toàn độc lập, thống nhất, có đầy đủ chủ quyền được quốc tế thừa nhận, trong một vận hội hòa bình yên ổn và phát triển lâu dài.

Với mùa xuân toàn thắng năm 1975, đất nước Việt Nam về cơ bản đã sạch bóng quân xâm lược, dân tộc Việt Nam hoàn toàn thoát khỏi ách đô hộ thực dân cũ và mới, lành lại nỗi đau chia cắt, giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam.

Sự kiện này vừa đánh dấu một mốc son sáng chói trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của người Việt Nam, vừa có ý nghĩa quốc tế quan trọng. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam đã góp phần chặn đứng làn sóng chiến tranh xâm lược và vào công cuộc giữ gìn hòa bình thế giới.

Mỹ đã xâm lược Việt Nam, gây xáo trộn hòa bình thế giới. Với thất bại ở Việt Nam, chủ nghĩa đế quốc ở Mỹ phải lùi một bước lớn về chiến lược, phải thay đổi phương thức bành trướng quốc tế và bá chủ thế giới để tránh một Việt Nam thứ hai. Do thất bại của Mỹ ở Việt Nam, hòa bình chung trên thế giới được bảo đảm. Sau cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam, thế giới này không còn chứng kiến những cuộc chiến tranh lớn nữa, và các cuộc chiến tranh nhỏ thì không còn xảy ra thường xuyên như trước.

Đối với thời đại, dân tộc Việt Nam là dân tộc thuộc địa đầu tiên đã đánh bại ách đô hộ và cuộc chiến tranh tái chiếm thuộc địa của Pháp, góp phần quan trọng cùng với phong trào cách mạng vô sản và giải phóng dân tộc trên thế giới gây thoái trào cho chủ nghĩa thực dân cũ, đánh sập hệ thống thuộc địa kiểu cũ, đặc biệt với biểu tượng Điện Biên Phủ lừng danh.

Với chiến công thắng Mỹ, Việt Nam đã hoàn toàn kết liễu mọi hình thức xâm lược của chủ nghĩa thực dân cũ (trực tiếp kéo quân vào xâm lược, chỉ huy, quản lý), mở đầu việc đánh bại chủ nghĩa thực dân mới. Với chiến tích này, nhân dân Việt Nam cũng góp phần làm chuyển biến tương quan lực lượng giữa phe diều hâu hiếu chiến và phía yêu chuộng hòa bình ở Hoa Kỳ nói riêng và trên thế giới nói chung.

Sáng 30/4/1975, những người lính Mỹ cuối cùng phải rời khỏi Việt Nam. Lần đầu tiên sau hơn 100 năm, Việt Nam có không còn bóng dáng quân giặc xâm lược trên lãnh thổ mình. Hơn 3 tiếng sau là sự sụp đổ đương nhiên của ngụy quyền. Thắng lợi này là kết quả của đại khối dân tộc trong cuộc đấu trí, đấu lực quyết liệt và lâu dài giữa dân tộc Việt Nam và đế quốc Mỹ. Quân đội Mỹ đã ghi thêm tên mình vào danh sách những bại binh bị Việt Nam đánh bại trong lịch sử.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nhận định: Điện Biên Phủ và Mùa xuân toàn thắng 1975 là những điểm hẹn lịch sử dành cho những cuộc chiến tranh xâm lược!

1. Giải phóng hoàn toàn miền Nam

Một thuộc địa kiểu mới, một xã hội thực dân mới thì đương nhiên cần phải giải phóng khỏi tay giặc xâm lược. Nhưng bản thân xã hội trong vùng tạm chiếm ở miền Nam Việt Nam còn có những căn bệnh trầm kha, đưa đến nhu cầu cần phải được giải phóng, không thể không giải phóng.

Xã hội trong những vùng tạm chiếm, về văn hóa thì méo mó, thác loạn, Tây hóa, Mỹ hóa. Đời sống tinh thần lệch lạc, đạo đức băng hoại, những phụ nữ ăn mặc hở hang đứng đường chào mời lính Mỹ là những hình ảnh thường thấy trên đường phố Sài Gòn, nhất là về đêm. Thường xuyên có những cô gái trẻ nhảy sông tự tử vì tình và vì nhiều nguyên nhân khác nhau. Báo chí tư nhân rẻ tiền trần trụi và công khai xúc phạm phẩm giá những nhân vật công chúng để câu khách. Truyện khiêu dâm được xuất bản bán công khai đầy ở các nhà sách.

Văn kiện của Bộ Ngoại giao Việt Nam được giải mật “Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc 30 năm qua”, do nhà xuất bản Sự Thật phát hành năm 1979, đã ước tính: Ngoài các nạn nhân bị thương vong, dị tật, di chứng từ cuộc chiến, nạn nhân chất độc hóa học, người Mỹ còn để lại một nền kinh tế tê liệt, trên 3 triệu người thất nghiệp, gần 1 triệu trẻ mồ côi, khoảng 600 ngàn gái mại dâm, trên 1 triệu bệnh nhân nghiện ma túy.

Đó là hậu quả của một thời kỳ ngoại thuộc lâu dài và buôn lậu ma túy gần 20 năm từ Diệm – Nhu và Trần Lệ Xuân cho đến Thiệu – Kỳ và Nguyễn Thị Lý, cũng như gia đình của họ. Ma túy được bày bán công khai ngoài chợ giữa ban ngày, nhất là ở Chợ Lớn.

Tiến sĩ ngành sử học Đông Nam Á Alfred W. McCoy là một sử gia có tên tuổi, ông viết cùng tác giả Cathleen B. Read trong sách The Politics of Heroin in Southeast Asia (Nền chính trị ma túy ở Đông Nam Á), do Harper & Row xuất bản năm 1972, về tình trạng buôn lậu ma túy và sự giao dịch giữa bọn tội phạm hình sự, bọn mafia quốc tế ở Đông Nam Á, đã tóm lược như sau:

Ngô Đình Nhu đã quyết định tái lập việc buôn bán ma túy để lấy tiền. Dù đa phần các tiệm hút ở Sài Gòn đã đóng cửa 3 năm rồi, hàng ngàn con nghiện người Trung Hoa và người Việt Nam vẫn còn thèm muốn được hút trở lại. Ông Nhu cho người tiếp xúc với những người cầm đầu của các tổ chức có thế lực của người Hoa ở Chợ Lớn để mở lại các tiệm hút và thiết lập một hệ thống phân phối ma túy nhập cảng lậu cho họ sử dụng. Chỉ trong vòng có mấy tháng, hàng trăm tiệm hút ma túy này đã hoạt động trở lại, và 5 năm sau, một phóng viên của tuần báo Time đã ước lượng ở Chợ Lớn có đến khoảng 2.500 cơ sở hút ma túy hoạt động công khai.

Để có thể cung ứng thuốc phiện đầy đủ cho khách hàng tiêu thụ, Ngô Đình Nhu thiết lập hai hệ thống đường bay khứ hồi từ vùng sản xuất thuốc phiện sống ở Lào về miền Nam Việt Nam. Hệ thống đường bay chính là thuê các phi cơ nhỏ của Hàng không Lào, giao cho trùm tội phạm quốc tế Bonaventure “Rock” Francisci phụ trách. Francisci trực tiếp nói chuyện và thương lượng với Ngô Đình Nhu. Theo trung tá Lucien Conein, một cựu viên chức cao cấp CIA ở Sài Gòn, mối quan hệ mờ ám giữa Ngô Đình Nhu và Francisci về dịch vụ bất hợp pháp này khởi đầu vào năm 1958. Sau khi Nhu bảo đảm an toàn cho việc đem thuốc phiện về Sài Gòn, Francisci dùng đoàn máy bay Beechtcrafts hai động cơ vận chuyển món hàng này về miền Nam Việt Nam hàng ngày.

Ngoài ra, Ngô Đình Nhu còn phái nhân viên tình báo dưới quyền bác sĩ Trần Kim Tuyến đến Lào với nhiệm vụ là vận chuyển thuốc phiện sống về Sài Gòn bằng phi cơ quân sự của không quân Sài Gòn. Tuy nhiên, nhiều người trong nội bộ cho rằng bác sĩ Trần Kim Tuyến, người đứng đầu tổ chức mật vụ có danh xưng trá hình “Sở Nghiên cứu Chính trị – Xã hội”, do CIA tài trợ, mới thật sự là nhân vật chủ chốt của kế hoạch làm ăn bất chính này.

CIA cũng là một ông “trùm ma túy”. CIA từng giao dịch ma túy với Trung Hoa Quốc Dân Đảng ở Trung Quốc, và giúp máy bay cho Tưởng Giới Thạch vận chuyển và giao dịch thuốc phiện ở Myanma và Thái Lan. Trong chiến tranh Afghanistan (1979-1989), CIA đã giúp lãnh tụ Hồi giáo Gulbuddin Hekmatyar, một người chống Liên Xô, vận chuyển và giao dịch ma túy.

Ngày 13/4/1989, bản báo cáo của Hội đồng Kerry, do Thượng nghị sĩ John Kerry (từng là ứng cử viên Tổng thống, hiện là Bộ trưởng ngoại giao), đã kết luận rằng CIA đã dùng nguồn thu nhập từ ma túy để chi tiêu cho lực lượng đặc nhiệm Contra.

Nhà ngoại giao người Canada, Gs. Peter Dale Scott cho biết Guadalajara Cartel là đường dây buôn lậu ma túy mạnh nhất đầu thập niên 1980, chúng hoạt động thoải mái phần lớn nhờ sự bảo kê của cơ quan DFS, là một cơ quan ngoại vi của CIA do Miguel Nazar Haro phụ trách.

Vicente Zambada Niebla, con trai của Ismael Zambada García, là một trong những tay trùm ma túy lớn nhất ở Mexico, sau khi bị bắt đã khai với các luật sư của hắn rằng hắn và các cộng sự được các nhân viên người Mỹ cung cấp “giấy phép” đặc biệt để vận chuyển ma túy qua lại biên giới hai nước, để đổi lấy các tin tức tình báo nội bộ về cuộc chiến ma túy quy mô lớn đang diễn ra ở Mexico.

Ngoài ra CIA còn nhúng tay vào việc giúp đỡ giao dịch hoặc trực tiếp giao dịch ma túy ở Panama sau khi gần 3 vạn quân Mỹ tấn công nước này vào năm 1989. CIA còn từng có một thời gian dài dùng ma túy chiêu dụ lực lượng Vệ binh Quốc gia Venezuela để đổi lấy các thông tin tình báo. Việc này đến năm 1996 mới được đưa ra công luận.

Một quán bar ở Sài Gòn dưới thời Mỹ (1969).

Một quán bar ở Sài Gòn dưới thời Mỹ (1969).

Năm 1969 là thời điểm quân Mỹ tràn ngập miền Nam Việt Nam đông đảo nhất, lên đến hơn 55 vạn quân. Trong năm này binh lính Mỹ ở Sài Gòn ăn xài khoảng 30 triệu USD mỗi tháng (tương đương 200 triệu USD ngày nay). Ngoài các viện trợ kinh tế dồi dào thì khoản tiển khổng lồ này cũng góp phần làm “thay đổi bộ mặt” của “Hòn ngọc Viễn Đông”, tạo ra vỏ bọc hào nhoáng phồn vinh giả tạo.

Hai tác giả Bradley S. O’ Leary và Edward Lee trong sách The Deaths of the Cold War Kings: The Assassinations of Diem and JFK (Cái chết của những ông vua Chiến tranh lạnh: Vụ ám sát Diệm và John F. Kennedy), do Cemetery Dance xuất bản năm 1999, đã cho biết như sau:

Năm 1958, khi Diệm-Nhu tái lập hệ thống lưu thông thuốc phiện về Sài Gòn, Bonaventure Francisci khó có thể hoan hỉ hơn vì nó đã làm sống lại nghề cũ của ông ta là vận chuyển thuốc phiện từ gốc sản xuất ở Lào đi thẳng về miền Nam Việt Nam bằng một phi đội máy may riêng.

Sau đó, Francisci dự tính sẽ kiếm được nhiều tiền hơn từ việc bán thuốc phiện trực tiếp cho hàng trăm ổ hút và hàng chục ngàn bệnh nhân nghiện ma túy ở Sài Gòn. Trong khi việc sản xuất thuốc phiện ở các nơi khác trên thế giới, đặc biệt là Mexico và Thổ Nhĩ Kỳ, ngày càng phức tạp và khó khăn. Tình hình này chỉ làm lợi thêm cho Guerini bởi vì nó gia tăng thị phần ma túy của ông ta.

Sau đó Francisci và Nhu đã thực hiện một hợp đồng phân phối cơ bản. Francisci sẽ vận chuyển thuốc phiện đến Sài Gòn cho các ổ hút của Nhu nhưng hắn còn chở nhiều thuốc phiện cho các điểm thả dù ở Sài Gòn. Tại đây, thuốc phiện sẽ được máy bay vận tải chở sang các xưởng chế biến ở Marseille. Tại Marseille, thuốc phiện sẽ được chế biến thành bạch phiến có chất lượng cao để bán cho các trùm ma túy ở Mỹ như Santos Trafficante, Carlos Marcello, và Sam Giancana.

Về căn bản, các tập đoàn buôn lậu ma túy, mafia Mỹ, và ngụy quyền Ngô Đình Diệm đã biến thành các đối tác làm ăn của nhau trong mạng lưới ma túy toàn cầu. Tiền tỷ chảy vào túi các bên liên quan.

Trong bài phê bình “Một Bí Ẩn Cần Tiết Lộ Trong Chuyện Bức Tử Miền Nam Năm 1975″ của tác giả Trần Viết Đại Hưng, một cựu sĩ quan ngụy, bạn thân của tướng ngụy Nguyễn Chánh Thi, đã phê phán gay gắt:

“Trong thời Chiến tranh Việt Nam, báo chí Mỹ phanh phui là Thiệu cùng với đàn em là Trung tướng Đặng văn Quang, đã buôn bán Bạch phiến làm giàu. Thứ trùm ma túy như Thiệu thì làm gì mà có chuyện yêu nước thương dân. Gặp thời loạn lạc, làm cai thầu chống Cộng, Thiệu chỉ có một việc duy nhất là vơ vét cho đầy túi tham mà thôi. Đến khi quốc gia hưng vong thì lòi ngay ra bản chất ti tiện hèn nhát, đúng là có ‘cháy nhà mới lòi mặt chuột’ Nguyễn văn Thiệu.

Phó tổng thống Nguyễn cao Kỳ cũng chẳng có gì khá hơn, trong cuốn hồi ký ” Việt Nam máu lửa quê hương tôi”, cựu thiếu tướng Đỗ Mậu đã chỉ ra rằng ông Kỳ và bà chị ruột là Nguyễn thị Lý đã buôn lậu thuốc phiện từ Lào về bán. Đúng là hai gương mặt cai thầu chống Cộng do Mỹ dựng lên là Nguyễn văn Thiệu và Nguyễn cao Kỳ chẵng có tay nào sáng sủa, toàn là thứ buôn lậu ma túy. Phải đợi tới những ngày cuối tháng 4/1975 mới thấy rõ tư cách hèn kém của hai tay này. Bỏ quân leo phi cơ mà chạy không một chút liêm sỉ và danh dự của người lãnh đạo.”

Ngoài sự tê liệt vì tệ nạn buôn lậu ma túy, xã hội trong những vùng tạm chiếm còn bị tê liệt bởi lối sống sa đọa và đồi trụy. Khoảng 6 triệu người Mỹ và gần 60 vạn quân viễn chinh Mỹ ở trong vùng tạm chiếm, đã tạo ra các nhu cầu và văn hóa “tiêu dùng” mới. Để “giúp vui” cho quân Mỹ, Mỹ-Thiệu cho mở cửa hàng loạt phòng tắm hơi, hộp đêm, nhất là ổ mại dâm, nhan nhản khắp Sài Gòn, đặc biệt là xung quanh các cư xá của người Mỹ. Thị trường mại dâm ở Sài Gòn trước năm 1975 được người dân quen miệng gọi là “chợ heo”, được Mỹ-Thiệu công khai hóa và hợp pháp hóa. Năm 1966, sau khi từ Sài Gòn về Mỹ, thượng nghị sĩ William Fulbright nhận xét: “Mỹ đã biến Sài Gòn thành một ổ mại dâm”.

Lối sống đồi trụy, thác loạn, không chỉ là hậu quả của sự có mặt của hàng chục vạn lính viễn chinh nước ngoài trong túi nhiều đô la Mỹ, mà theo một số người, nó còn nằm trong chủ trương ngầm nhằm đồi trụy hóa thanh niên miền Nam, làm cho giới trẻ quên đi hoàn cảnh đất nước đang bị xâm lược, không màng tới nghĩa vụ đối với dân tộc.

Từ đó xuất hiện ở Sài Gòn một dòng văn học khiêu dâm trong đó các tác giả chuyên khai thác thị hiếu thấp hèn của người đọc, đề cao “phần con” hơn “phần người”, công khai cổ vũ cho những lối sống bệnh hoạn, biến thái. Bên cạnh những “phim con heo” (các danh từ “chợ heo”, “phim heo” này đều có nguồn gốc từ đây) bán công khai ngoài phố, báo chuyên in hình phụ nữ khỏa thân (Playboy, Penthouse, Nude….) bày bán công khai trên vỉa hè các đường Lê Lợi, Công Lý…. ở ngay trung tâm thành phố, là những tiểu thuyết “người lớn” của những “chuyên gia” viết truyện khiêu dâm như Chu Tử, Lê Xuyên, Mai Thảo, Dương Nghiễm Mậu, Thụy Vũ….

Những vấn đề nói trên đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng trong đời sống văn hóa – tinh thần của người dân. Sự sa đọa, trụy lạc trong xã hội đã gây ra nhiều thảm cảnh gia đình và hạnh phúc đổ vỡ, nhiều câu chuyện bi đát thương tâm. Qua các báo hằng ngày, không ngày nào là không có những vụ án mạng vì tình, những vụ tự tử, nhảy lầu, nhảy sông, đâm chém, bắn giết lẫn nhau vì giành nhau một người đẹp, kể cả trong quân đội ở các chức vị cao nhất (một ví dụ là “phó tổng thống” Nguyễn Cao Kỳ thời đó, do “nổi tiếng” với thái độ ngang ngược chỉa súng cướp bồ nhí của đàn em nên bị mọi người gọi là “Kỳ Cao Bồi”).

Tiến sĩ James Carter, giáo sư sử học tại Đại học Drew (Mỹ), trong sách Inventing Vietnam: The United States and State Building, 1954-1968 (dịch ý: Quá trình phát minh Nam Việt Nam: Hoa Kỳ và quá trình xây dựng Nhà nước VNCH, 1954-1968), do NXB Đại học Cambridge (Anh) phát hành năm 2008, đã cho biết: “Chiến tranh cũng làm 100.000 thường dân thương vong mỗi năm. Dịch bệnh tăng vọt; dịch tả tăng từ hàng trăm lên đến 20.000 vụ. Khoảng từ 30.000 đến 50.000 người cụt chân tay chờ được lắp chân giả. Và chính phủ Sài Gòn chỉ dành chưa đầy 1% ngân sách cho dịch vụ y tế.”

Có lẽ từ những hiện thực trên mà sử gia Stanley I. Kutler trong Encyclopedia of The Vietnam War (Bách khoa thư Chiến tranh Việt Nam) do Simon & Schuster McMillan xuất bản năm 1996, đây là cuốn sách viết theo quan điểm và tuyên truyền chính thức, chính thống và công khai của chính phủ Mỹ, đã phải viết về xã hội dưới thời Mỹ-Thiệu như sau:

“Đối với hầu hết người dân trong các thành phố, đời sống càng ngày càng trở nên khó khăn. Vào năm 1972, có vào khoảng 800 ngàn trẻ em mồ côi lang thang trên các vỉa hè trong các đường phố ở Sài Gòn và một số thành phố khác, sống bằng nghề ăn mày, đánh giày, rửa xe, móc túi và dẫn khách làng chơi về cho chính chị gái và mẹ của chúng. Có vào khoảng 500 ngàn gái mại dâm và gái bán ba, trong đó có nhiều người là bà vợ của anh em quân nhân trong quân đội Nam Việt Nam. Họ phải làm cái việc ô nhục này để phụ cấp đồng lương chết đói của ông chồng không đủ nuôi cho một người. Ngoài ra, lại còn có khoảng 2 đến 3 triệu người, trong đó có những người già cả hay thương phế binh của quân đội Nam Việt Nam không thể nào tìm được công ăn việc làm. Vào năm 1974, tình trạng đói đã lan rộng ra nhiều nơi ở miền Nam. Theo cuộc thăm dò của anh em sinh viên Ca-tô thì ngay trong khu vực giàu có nhất trong thành phố Sàigòn, chỉ có 1/5 tổng số gia đình có đủ ăn, một nửa tổng số gia đình cho là có thể lo được mỗi ngày một bữa cơm và một bữa cháo bằng thứ gạo rẻ tiền nhất. Các gia đình còn lại đều đói. Đói và thất nghiệp đưa đến tội ác, tự tử và biểu tình trong khắp các vùng do chính quyền Nam Việt Nam quản lý.”

Banner quảng cáo "Đại nhạc hội xuân vùng 4 chiến thuật" ở Sài Gòn (1971).

Banner quảng cáo "Đại nhạc hội xuân vùng 4 chiến thuật" ở Sài Gòn (1971).

Tóm lại, miền Nam đã được giải phóng khỏi những gì? Trước hết là khỏi sự chiếm đóng của quân đội Mỹ, sự thao túng, lũng đoạn, ảnh hưởng của giặc ngoại xâm, ách đô hộ thực dân mới, và các tội ác chiến tranh.

Miền Nam không còn bóng giặc, không còn tiếng bom đạn, không còn những ngày đêm vùng vẫy trong những nhà tù lớn được gọi là “Ấp chiến lược”, không còn những ngày đêm bị càn bị quét, không còn những trận càn, ruồng bố, khủng bố trắng, tàn sát, hủy diệt hàng loạt và những tội ác chiến tranh to lớn mà nhiều người coi là những tội ác diệt chủng, chống nhân loại.

Không còn những thảm cảnh giết người đốt nhà, thảm sát, “ba sạch” (phá sạch, giết sạch, đốt sạch). Không còn những cảnh phụ nữ, trẻ con bị hiếp rồi giết. Không còn những cảnh những bà cụ, ông lão bị lùa xuống mương rồi xả súng. Không còn những tên giặc giơ thủ cấp của người Việt yêu nước khoe khoang trước ống kính. Không còn những đạo luật giết người, “lê máy chém” khắp nơi.

Không còn bọn mật vụ Phượng Hoàng hàng ngày hàng giờ lùng sục bắt cóc, thủ tiêu. Không còn những tên lính giặc không coi người Việt là loài người như sĩ quan Mỹ Celina Dunlop đã tự bạch trên kênh BBC Anh ngữ tháng 3 năm 2008: “Phần lớn trong nhóm chúng tôi không coi người Việt là loài người.” Không còn những thảm kịch hành hạ, tra tấn, cắt bỏ các bộ phận cơ thể phụ nữ, trẻ em. Không còn ai bị đày ra Côn Đảo, Phú Quốc, bị nhốt trong những “chuồng bò”, “chuồng cọp”. Bom đạn và chất độc hóa học không còn rơi lên trên đất Việt, người Việt.

Không còn những bi kịch lính Mỹ đối đãi bất công, đánh đập, giết chóc, “dội bom nhầm” lên một bộ phận lính ngụy, sĩ quan ngụy, giết “tổng thống” ngụy. Không còn những lần người Mỹ thí nghiệm và lùa lính ngụy đi vào đất chết. Không còn cảnh tượng lính Mỹ hãm hiếp, bắt làm nô lệ tình dục vợ con và người thân của lính ngụy. Không còn cảnh những cô gái Sài Gòn phấn son kỹ lưỡng với những chiếc váy không thể ngắn hơn đứng đầy đường công khai giữa ban ngày chào mời lính Mỹ.

Không còn cảnh những căn cứ quân sự nước ngoài đầy kẽm gai mọc lên như nấm, gần 100 vạn quân viễn chinh tự tung tự tác, muốn làm gì thì làm, không coi ai ra gì, cướp – hiếp – giết khắp nơi, xâm hại chà đạp lên quyền con người.

Không còn những phận đời trôi nổi của gần nửa triệu con lai và cô nhi của gần 6 triệu người Mỹ, khiến sau này hình thành một diện xuất cảnh chưa từng có trên thế giới là “diện con lai”.

Nhiều trẻ em con lai Mỹ được lính Mỹ đưa về Hoa Kỳ trong những ngày cuối tháng 4 năm 1975

Nhiều trẻ em con lai Mỹ được lính Mỹ đưa về Hoa Kỳ trong những ngày cuối tháng 4 năm 1975

Nông thôn và đô thị miền Nam cũng không còn những lần biểu tình bị đàn áp dã man bằng dùi cui, lựu đạn cay, roi điện, súng đạn. Những sân trường miền Nam không còn đổ máu, không còn những người dân, thanh niên, sinh viên miền Nam ngã xuống trước quân đội Mỹ và cảnh sát ngụy.

Tóm lại là không còn hàng trăm cuộc thảm sát ở miền Nam Việt Nam, không còn hàng ngàn tội ác của quân xâm lược. Không còn những mảnh đời đau khổ, trong đó có cả lính ngụy và người thân của họ. Không còn cảnh người Mỹ hoành hành khắp miền Nam, muốn giết ai thì giết, từ phụ nữ trẻ em cụ già cho đến “tổng thống”.

2. Thống nhất đất nước

Kể từ thời Nam – Bắc triều, rồi Trịnh – Nguyễn phân tranh, đất nước Việt Nam chưa bao giờ có được sự thống nhất thật sự và lâu dài. Trong thời Nguyễn sau này cũng xảy ra cuộc nổi dậy quy mô lớn của tướng Lê Văn Khôi đánh chiếm Nam Kỳ lục tỉnh ròng rã hai năm, biến Nam Kỳ lục tỉnh trở thành lãnh địa riêng của ông ta và ly khai với triều Nguyễn. Quanh đó là hàng loạt cuộc khởi nghĩa nông dân khác chống nhà Nguyễn, nhiều địa bàn trở thành nơi cát cứ ly khai của các thế lực thổ hào địa phương, xưng hùng một cõi.

Khi thực dân Pháp cướp nước ta, họ chia Đại Nam ra 3 kỳ, 3 xứ riêng lẻ (Nam Kỳ – Cochinchine, Trung Kỳ – Annam, Bắc Kỳ – Tonkin) với 3 chế độ cai trị khác biệt, phục vụ cho chính sách “chia để trị”, “dùng người Việt trị người Việt”.

Về danh nghĩa nhà nước, thì Nam Kỳ là nơi mà người Pháp coi là “xứ thuộc địa” của họ từ hiệp ước nhượng 3 tỉnh Nam Kỳ của Tự Đức, Phan Thanh Giản, Lâm Duy Hiệp, và sau đó họ hành quân chiếm thêm 3 tỉnh với “lý do” nhà Nguyễn không tôn trọng hiệp định hòa bình đã ký, dung túng nghĩa quân…. Còn Bắc Kỳ và Trung Kỳ, về danh nghĩa, được người Pháp gọi là “xứ bảo hộ” cho một vương triều “độc lập” của An Nam. Như vậy, dưới thời Pháp thuộc, nước Việt vừa bị chia 2, vừa bị chia 3. Chia 2 về danh nghĩa nhà nước. Chia 3 về chế độ cai trị.

Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam phục hồi nền độc lập sau gần 100 năm Pháp thuộc và mấy năm bị quân Nhật xâm lược. Chính phủ Việt Nam tuyên bố độc lập và thống nhất, xóa bỏ chế độ Bắc-Trung-Nam của thực dân và phát xít.

Tuy nhiên, sau đó quân Tàu Tưởng kéo vào miền Bắc, liên quân Anh – Pháp kéo vào Nam, sau đó thực dân Pháp quay lại tái chiếm thuộc địa, đại nghiệp thống nhất đất nước bị các thế lực đầy tham vọng từ nước ngoài ngăn trở. Quân dân Việt Nam trên cả nước phải bước vào cuộc chiến tranh khốc liệt chống quân Pháp xâm lược.

Sau khi hiệp định Genève 1954 được ký kết, đại nghiệp thống nhất Tổ quốc lại phải chờ hai năm. Nhưng Mỹ, vốn trong chiến tranh Pháp – Việt chính là kẻ đứng sau yểm trợ thực dân Pháp, đã từ hậu trường nhảy ra phía trước sân khấu, từng bước hất cẳng Pháp ra khỏi võ đài chính trị ở miền Nam Việt Nam.

Cầu Hiền Lương bắc qua sông Bến Hải xưa và nay

Cầu Hiền Lương bắc qua sông Bến Hải xưa và nay

Mỹ-ngụy đã phủ nhận hiệp định Genève về Đông Dương và dùng bạo lực ngăn cản việc thi hành hiệp định, với ý đồ chia cắt đất nước, canh giữ sông Bến Hải, ngăn cầu Hiền Lương ở vĩ tuyến 17, chia cắt không cho miền Nam và miền Bắc gặp nhau, gây khó khăn một cách có hệ thống cho việc giao lưu, qua lại, liên lạc Bắc-Nam.

Mỹ-ngụy chia cắt không cho nhân dân hai miền liên hệ. Họ chia cắt, gom dân, đàn áp, bỏ tù, bắn giết, không cho lãnh đạo miền Bắc vào miền Nam, không cho Đảng bộ miền Nam liên hệ ra Bắc. Họ xây dựng một loạt đồn bốt cảnh sát rải dọc bờ Nam sông Bến Hải, kéo dài từ Cửa Tùng đến Hói Cụ; với đội quân thám báo, mật vụ nhằm kìm kẹp, ngăn cản mọi sự quan hệ, qua lại của người dân đôi bờ.

Biết bao nhiêu nỗi khổ, nỗi nhớ nhung ray rứt người thân mà người dân đôi bờ Hiền Lương – Bến Hải quanh vĩ tuyến 17 phải chịu đựng. Nhiều gia đình ly tán, chồng Bắc, vợ Nam. Những nỗi nhớ, nỗi niềm này còn được phản ảnh qua nghệ thuật. Đã có nhiều thơ văn, thi ca nói lên nỗi đau chia cắt, như “Bên ven bờ Hiền Lương, chiều nay ra đứng trông về…. ôi mắt đượm tình quê…. mắt đượm tình quê….” (bài hát Câu hò bên bờ Hiền Lương – nhạc sĩ Hoàng Hiệp), “Cách nhau chỉ một mái chèo – Mà đi trăm núi vạn đèo đến đây.” (nhà thơ Thanh Hải), hay “Cách một dòng sông mà đó thương đây nhớ – Cách một nhịp cầu mà duyên nợ cách xa.” (dân gian).

Vào giai đoạn 1954-1964, ở đôi bờ Bến Hải đã được phát thanh lên một giọng ca ngọt ngào, ấm áp của NSND Châu Loan với những bài thơ, bài hò do bà thể hiện rất truyền cảm:

“Chim xa rừng còn thương cây nhớ cội

Thiếp xa chàng ngày đợi đêm trông

Trong đồn chàng có nhớ thiếp không?

Ngoài này thiếp vẫn chờ mong chàng về.”

Bộ đội miền Nam rời bỏ quê hương, ruộng vườn, tạm biệt người thân để tập kết ra Bắc theo hiệp định Genève 1954

Bộ đội miền Nam rời bỏ quê hương, ruộng vườn, tạm biệt người thân để tập kết ra Bắc theo hiệp định Genève 1954

Bộ đội miền Nam rời bỏ quê hương, ruộng vườn, tạm biệt người thân để tập kết ra Bắc theo hiệp định Genève 1954

Bộ đội miền Nam rời bỏ quê hương, ruộng vườn, tạm biệt người thân để tập kết ra Bắc theo hiệp định Genève 1954

Có thể thấy gần như tất cả những người sắp tạm biệt nhau ở hình trên không có người nào buồn bã, ai nấy đều cho rằng chỉ tạm thời xa nhau trong 2 năm, tới năm 1956 đất nước thống nhất họ sẽ về nhà. Không ai ngờ cuộc chia ly 2 năm trở thành cuộc chia ly 21 năm.

Trong phong trào đấu tranh của Đảng bộ và người dân miền Nam đòi tổng tuyển cử thống nhất đất nước theo hiệp định Genève 1954, với ý đồ chia cắt lâu dài Việt Nam, Mỹ-ngụy đã gây ra một “cuộc chiến màu sắc”: Giữa cầu Hiền Lương có một vạch trắng kẻ ngang, rộng 1cm được dùng làm ranh giới. Lính ngụy chủ động sơn một nửa cầu phía nam thành màu xanh, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa liền sơn tiếp màu xanh một nửa cầu còn lại. Sau lính ngụy lại chuyển sang màu nâu thì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng sơn lại màu nâu. Cứ như thế, cầu Hiền Lương luôn thay đổi màu sắc, hễ lính ngụy sơn một màu khác đi để tạo ra hai màu khác biệt thì ngay lập tức Quân đội Nhân dân Việt Nam liền sơn lại cho giống. Hành động sơn màu cầu là một hình thức đấu tranh chính trị nhằm nói lên khát vọng thống nhất của dân tộc Việt Nam đối với người Mỹ và nhân dân thế giới.

Từ đó, với tinh thần “Các vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước.”“Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi.” của Bác Hồ, những con cháu của Bác đã tiếp nối cuộc kháng chiến chống Pháp, cố gắng một lần nữa thực hiện cuộc trường chinh gian khổ, kéo dài hơn 20 năm, để đánh đuổi xâm lăng và thống nhất nước nhà. Cuối cùng vào năm 1975, cây cầu chung một màu xanh thống nhất.

Ngày nay, ở bờ Nam sông Bến Hải có một tượng đài với tên gọi: “Khát vọng thống nhất non sông”. Tượng đài có hình dáng của một thiếu phụ đang đứng ở bờ Nam sông Bến Hải nhìn về phía Bắc để tưởng nhớ những ngày tháng đau thương khi họ không thể vượt sông để gặp chồng con và gia đình.

Trải qua bao nhiêu gian khổ, đại nghiệp thống nhất Tổ quốc của dân tộc Việt Nam cuối cùng cũng đã hoàn thành vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã dẫn đến kết quả chấm dứt sự chia cắt đất nước của ngoại bang, đưa đến việc hoàn toàn thống nhất Việt Nam về hành chính, xã hội, địa lý, dân cư.

Thống nhất đây là thống nhất tất cả: Thống nhất vùng giải phóng và vùng tạm chiếm ở miền Nam, xóa đi các “mảnh da báo”, thống nhất Bắc Bộ và Nam Bộ, thống nhất ba miền Bắc-Trung-Nam, thống nhất toàn bộ lãnh thổ. Về phương diện pháp lý quốc tế, thì năm 1976 họp Quốc hội là thống nhất Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam thành 1 quốc gia: Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Xem lại các kỳ trước:

———————————————————————————————————

Tài liệu tham khảo

Việt Nam:

  • Hồ Chí Minh toàn tập – Chủ tịch Hồ Chí Minh – Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (2000)
  • Hồi ức: Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng – Đại tướng Võ Nguyên Giáp – Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (2000)
  • Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về tội ác chiến tranh xâm lược – Nguyễn Quốc Hùng – Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh & Nhà xuất bản Trẻ (2003)
  • Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam – Gíáo sư Phan Huy Lê, Nhà nghiên cứu sử học Dương Trung Quốc, Trần Xuân Thanh – Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (2010)
  • Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 (tập 1-8) – Trung tướng Giáo sư Hoàng Phương, Thượng tá Nguyễn Văn Minh, Đại tá Hoàng Dũng, Đại tá Trần Bưởi, Đại tá Đỗ Xuân Huy, Đại tá Tiến sĩ Hồ Khang, Trung tá Nguyễn Huy Thục, Trung tá Nguyễn Xuân Năng, Trung tướng Nguyễn Đình Ước, Thượng tá Ngô Văn Bính, Thượng tá Trần Tiến Hoạt, Đại tá Tiến sĩ Trịnh Vương Hồng, Trung úy Lê Quang Lạng, Đại tá Nguyễn Như Minh, Đại úy Nguyễn Văn Quyền, Thiếu tướng Tiến sĩ Phạm Văn Thạch – Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (1995-2008)
  • Quân và dân miền Nam đấu tranh phòng chống vũ khí hóa học của Mỹ trong những năm 1961-1972 – Tiến sĩ Nguyễn Đức Hòa – Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh xuất bản (2009)
  • Cuộc Đồng khởi kỳ diệu ở miền Nam Việt Nam 1959-1960 – Nhà nghiên cứu lịch sử quân sự Đại tá Lê Hồng Lĩnh – Nhà xuất bản Đà Nẵng (2006)
  • Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Bến Tre – Thiếu tá Vũ Bình, Đại úy Phạm Hoài Bão, Thượng úy Phạm Ngọc Tuấn – Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Bến Tre xuất bản (1985)
  • Mậu Thân 1968, cuộc đối chiến lịch sử – Nguyễn Phương Tân, Lê Ngọc Tú – Nhà xuất bản Lao Động (2008)
  • 5 Đường mòn Hồ Chí Minh – Đặng Phong – Nhà xuất bản Tri Thức & Phương Nam Books (2008)
  • Bộ Tham mưu Hải quân – Biên niên sự kiện (1959-2004) – Nguyễn Văn Đấu, Dương Thảo, Đặng Văn Tới – Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân (2004)
  • Lịch sử Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định kháng chiến (1945-1975) – Trần Hải Phụng, Lưu Phương Thanh, Hồ Sơn Đài, Trần Phấn Chấn – Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh (1994)
  • Khu VIII – Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975) – Nguyễn Minh Đường, Nguyễn Văn Triệu, Lê Minh Đức, Phạm Văn Kim, Cao Văn Sáu, Đặng Văn Tố, Nguyễn Xuân An – Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (2001)
  • Khu VI kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 – Đại tá Trần Dương, Đại tá Võ Đức Nhi, Thiếu tá Nguyễn Đức Tấn – Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (2002)
  • Bài tham luận của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong hội thảo khoa học “Đại thắng mùa Xuân 1975 – Bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam” do Bộ Quốc phòng, Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương tổ chức ngày 14 và 15/4/2005, ghi lại trên Tạp chí Xưa & Nay số 234 (2005)
  • Phim tài liệu “Đồng khởi – Bến tre” – Đạo diễn Lê Phong Lan – Công ty TNHH Truyền thông Đồng đội sản xuất & Đài Truyền hình Việt Nam sản xuất và phát hành (2009)
  • Phim tài liệu “Lực lượng vũ trang Thành phố Hồ Chí Minh anh hùng” – Đạo diễn Hồ Minh Đức – Bộ tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh, Hãng phim Truyền Hình Thành phố Hồ Chí Minh & Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh sản xuất và phát hành (2011)
  • Phim tài liệu “Nơi huyền thoại bắt đầu” – Đạo diễn Thanh Lan – Trung tâm phim tài liệu phóng sự Đài truyền hình Việt Nam & Đài truyền hình Việt Nam sản xuất và phát hành (2012)
  • Phim tài liệu “Mậu Thân 1968″ – Đạo diễn Lê Phong Lan – Hãng phim truyền hình Bản Sắc Việt & Đài Truyền hình Việt Nam sản xuất và phát hành (2012)

Hoa Kỳ và quốc tế:

  • General Vo Nguyen Giap and the Mysterious Evolution of the Plan for the 1968 Tet Offensive (Tướng Võ Nguyên Giáp và tiến trình bí mật của kế hoạch Tết Mậu Thân 1968) – Nhà sử học, Việt Nam học Merle L. Pribbenow II – Vietnam study department Đại học California xuất bản (2008)
  • Cuộc chiến dài ngày giữa nước Mỹ và Việt Nam 1950-1975 – George C. Herring (Phạm Ngọc Thạch dịch) – Nhà xuất bản Công an Nhân dân (2004)
  • Lyndon Johnson’s War: The Road to Stalemate (Cuộc chiến của Lyndon Johnson: Đường đi đến bế tắc) – Giáo sư Larry Berman – W. W. Norton & Company (1991)
  • The White House Years (Những năm tháng ở Nhà Trắng) – Cựu ngoại trưởng Henry Kissinger – Simon & Schuster (2011)
  • A Soldier Reports (Tường trình của một quân nhân) – Đại tướng William Westmoreland – Doubleday (1976)
  • Kill Anything That Moves: U.S. War Crimes And Atrocities In Vietnam, 1965-1973 (Giết bất cứ vật gì chuyển động: Tội ác chiến tranh hung bạo của Mỹ ở Việt Nam) – Nhà sử học kiêm nhà báo Nick Turse – Nhà xuất bản Đại học Columbia (2005)
  • The United States and Biological Warfare: Secrets from the Early Cold War and Korea (Hoa Kỳ và Chiến tranh hóa học: Bí mật từ đầu Chiến tranh lạnh và Triều Tiên) – Stephen Endicott, Edward Hagermann – Nhà xuất bản Đại học Indiana (1998)
  • The War Behind Me: Vietnam Veterans Confront the Truth About U.S. War Crimes (Cuộc chiến sau lưng tôi: Cựu binh Chiến tranh Việt Nam chất vấn sự thật về tội ác chiến tranh Hoa Kỳ) – Deborah Nelson – Basic Books (2008)
  • America in Vietnam: a documentary history (Hoa Kỳ ở Việt Nam: một tài liệu lịch sử) – William Appleman Williams, Lloyd C. Gardner, Walter LaFeber – W. W. Norton & Company (1989)
  • Dictionary of the Vietnam War (Tự điển thuật ngữ về Chiến tranh Việt Nam) – nhà sử học James Olson, Greenwood Press (1988)
  • Crimes of War: What the Public Should Know (Tội ác chiến tranh: Những gì công chúng nên biết) – Lewis M. Simmons – Roy Gutman xuất bản (1999)
  • “Guide to the Vietnam War” (Hướng dẫn kiến thức cơ bản Chiến tranh Việt Nam) – David L. Anderson – Nhà xuất bản Columbia (2004)
  • Những bí mật về Chiến tranh Việt Nam – Tiến sĩ Daniel Ellsberg (Tĩnh Hà, Kiều Oanh dịch) – Nhà xuất bản Công an Nhân dân (2006)
  • Sự lừa dối hào nhoáng – Nhà báo Neil Sheehan (Đoàn Doãn dịch) – Nhà xuất bản Công an Nhân dân (2003)
  • 40 ngày sống với đối phương – Richard Dudman (Trần Ngọc Châu, Dương Thủy dịch) – Nhà xuất bản Trẻ (2005)
  • Những gì tôi thấy ở Việt Nam – Alain Wasmes (Nguyễn Huy Cầu dịch) – Nhà xuất bản Công an Nhân dân (2004)
  • Nhìn lại quá khứ: Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam – Cựu Bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ Robert McNamara (Hồ Chính Hạnh, Huy Bình, Thu Thủy, Minh Nga dịch) – Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (1995)
  • The Palace File (Hồ sơ mật Dinh Độc Lập) – Nguyễn Tiến Hưng – Harper & Row Publishers (1986)
  • The Vietnam War in American memory: veterans, memorials, and the politics of healing (Chiến tranh Việt Nam trong ký ức người Mỹ: cựu binh, tưởng niệm, và yếu tố chính trị của sự lành lại vết thương) – Patrick Hagopian – Nhà xuất bản Đại học Massachusetts (2009)
  • Vietnam and Other American Fantasies (Việt Nam và các ảo tưởng khác của người Mỹ) – Bruce Franklin – Nhà xuất bản Massachusetts (2001)
  • Inventing Vietnam: The United States and State Building, 1954-1968 (dịch ý: Quá trình phát minh Nam Việt Nam: Hoa Kỳ và quá trình xây dựng Nhà nước Việt Nam Cộng hòa, 1954-1968) – Tiến sĩ James Carter – Nhà xuất bản Đại học Cambridge (2008)
  • Secrets: A Memoir of Vietnam and the Pentagon Papers (Một tưởng nhớ về Việt Nam và Hồ sơ Lầu Năm Góc) – Tiến sĩ Daniel Ellsberg – Nhà xuất bản Viking (2002)
  • Understanding Power: The Indispensable Chomsky (Nhận diện quyền lực: Chomsky và những điều không thể bỏ qua) – Mitchell Schoeffel, Peter Schoeffel, John Schoeffel – Nhà xuất bản Vintage (2003)
  • The Vietnam War and American Culture (Chiến tranh Việt Nam và văn hóa Mỹ) – John Carlos Rowe, Rick Berg – Nhà xuất bản Đại học Columbia (1991)
  • Historical Dictionary of the 1970s (Tự điển lịch sử của thập niên 1970) – Giáo sư sử học James Stuart Olson – Nhà xuất bản Greenwood (1999)
  • Fire in the Lake: The Vietnamese and the Americans in Vietnam (Ngọn lửa trên sông: Người Việt và người Mỹ ở Việt Nam) – Nhà báo Frances FitzGerald – Nhà xuất bản Back Bay Books (2002)
  • Ngày tàn ngụy chúa – Marshal Brement (Bạch Phương dịch) – Nhà xuất bản Thanh Niên (2011)
  • Vietnam War Era: A Personal Journey (Thời kỳ Chiến tranh Việt Nam: Một hành trình riêng) – Giáo sư sử học Bruce Solheim – Nhà xuất bản Đại học Nebraska (2008)
  • Anything But the Truth: the Credibility Gap-How the News is Managed in Washington (Tất cả ngoài sự thật: Khoảng cách tin cậy về cách quản lý thông tin ở Washington) – Erwin Knoll, William McGaffin – G. P. Putnam’s Sons (1968)
  • The United States in Vietnam: An analysis in depth of the history of America’s involvement in Vietnam (Hoa Kỳ ở Việt Nam: Một phân tích chuyên sâu về lịch sử can thiệp của Hoa Kỳ vào Việt Nam) – Nhà chính trị học George McTurnan Kahin, John W. Lewis – Delta Books (1967)
  • Vietnam, a History (Việt Nam, một Lịch sử) – Nhà sử học Stanley Karnow – Nhà xuất bản Edition King (1983)
  • The Politics of Heroin in Southeast Asia (Nền chính trị ma túy ở Đông Nam Á) – Tiến sĩ sử học Alfred W. McCoy, Cathleen B. Read – Harper & Row (1972)
  • The Deaths of the Cold War Kings: The Assassinations of Diem and JFK (Cái chết của những ông vua Chiến tranh lạnh: Vụ ám sát Diệm và John F. Kennedy) – Bradley S. O’ Leary, Edward Lee – Cemetery Dance (1999)
  • Encyclopedia of The Vietnam War (Bách khoa thư Chiến tranh Việt Nam) – Sử gia Stanley Kutler – Simon & Schuster McMillan xuất bản (1996)
  • Encyclopedia of the Vietnam War (Bách khoa thư Chiến tranh Việt Nam) – Đại tá Tiến sĩ Spencer C. Tucker – ABC-CLIO (2000)
  • The secret team: The CIA and its allies in control of the United States and the world (Đội ngũ bí mật: CIA và các đồng minh kiểm soát Hoa Kỳ và thế giới) – Đại tá Fletcher Prouty – Prentice-Hall (1973)
  • Anatomy of a War: Vietnam, the United States, and the Modern Historical Experience (Giải phẫu một cuộc chiến tranh: Việt Nam, Hoa Kỳ, và trải nghiệm lịch sử hiện đại) – Gabriel Kolko – Pantheon Books (1985)
  • Foreign Aid, War, and Economic Development: South Vietnam, 1955-1975 (Viện trợ nước ngoài, Chiến tranh, và Phát triển kinh tế: Nam Việt Nam, 1955-1975) – Nhà kinh tế học Douglas Dacy – Đại học Cambridge (2005)
  • Death Zones and Darling Spies, seven years of Vietnam War reporting (Tử địa và các điệp viên đáng yêu, bảy năm làm phóng sự về Chiến tranh Việt Nam) – Beverly Deepe Keever – Nhà xuất bản Đại học Nebraska (2013)
  • Kill Anything That Moves: The Real American War in Vietnam (Giết bất cứ thứ gì chuyển động: Cuộc chiến thật sự của Mỹ ở Việt Nam) – Nhà sử học kiêm nhà báo Nick Turse – Metropolitan Books (2013)
  • U.S. Marines in Vietnam: The Bitter End, 1973-1975 (Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ ở Việt Nam: Sự kết thúc cay đắng, 1973-1975) – George R. Dunham – Nhà xuất bản Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ (1990)
  • Hồ sơ SSN/0802 USMC, bản báo cáo After Action Report 17/4/1975 – 7/5/1975 – Thiếu tá James H. Kean
  • Cuộc phỏng vấn Trung tướng Lưu Á Châu, Chính ủy Không quân Quân khu Thành Đô, Trung Quốc trên tạp chí Khoa Học Quân Sự Không Quân (2010)
  • Thời báo New York, phát hành ngày 8/6/1963
  • Tuần báo Time, phát hành ngày 8/6/1964
  • Bưu báo Washington, phát hành ngày 8/6/1964
  • Phim tài liệu “Vietnam: The 10,000 Day War” (Việt Nam: Cuộc chiến 10.000 ngày) – Đạo diễn Michael Maclear – Tập đoàn Truyền thông Canada (CBC) sản xuất (1980)
  • Phim tài liệu “Vietnam: A Television History” (Việt Nam: Thiên lịch sử truyền hình) – Đài truyền hình PBS (Mỹ), WGBH Boston (Mỹ), CIT (Anh), Antenne–2 (Pháp) và LRE Production (Pháp) sản xuất và phát hành (1983)
  • Phim tài liệu “Việt Nam Thống Nhất” – Đạo diễn Yamamoto Satsuo, Toma Hiroichi, Yuki Yoshihiro, Suzuki Toshikazu – Hiệp hội Phát hình Nhật Bản Nippon Hōsō Kyōkai (NHK) sản xuất (1975)
  • Phim tài liệu “The Cu Chi Tunnels” (Địa đạo Củ Chi) – Đạo diễn Mickey Grant – Mickey Grant & Stan Cottrell sản xuất (1986)
  • Tài liệu Internet
  • Từ điển Bách khoa thư Việt Nam
  • Bách khoa toàn thư mở
  • Bách khoa thư Farlex
  • Đại tự điển Việt Nam
  • Bách khoa Tri thức Việt Nam

(Blogger Thiếu Long)

Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về [email protected]
Thích và chia sẻ bài này trên