Chủ đề

(Thời sự) - Ngày 20/2, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã dự Hội thảo “Kết hợp công tư trong cung cấp dịch vụ y tế. Khai thông môi trường đầu tư và lựa chọn mô hình”, do Bộ Y tế và Ngân hàng Thế giới (WB) phối hợp tổ chức.

Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam phát biểu tại Hội thảo "Kết hợp công tư trong cung cấp dịch vụ y tế. Khai thông môi trường đầu tư và lựa chọn mô hình”, ngày 20/2.

Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam phát biểu tại Hội thảo "Kết hợp công tư trong cung cấp dịch vụ y tế. Khai thông môi trường đầu tư và lựa chọn mô hình”, ngày 20/2.

Các đại biểu đã chia sẻ kinh nghiệm trong phát triển và vận hành mô hình hợp tác công-tư (PPP) như là một trong những giải pháp hiệu quả nhằm huy động các thành phần kinh tế ngoài nhà nước đầu tư vào lĩnh vực y tế, qua đó nâng cao hiệu quả, năng lực chăm sóc sức khỏe nhân dân.

Phát biểu tại hội thảo, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam cho rằng những năm qua khu vực tư nhân đã tham gia nhiều vào lĩnh vực y tế (qua số lượng phòng khám, BV tư nhân, hay đầu tư trang thiết bị  vào BV công lập) vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế. Vấn đề là cần có cơ chế, chính sách đồng bộ từ đất đai, vốn đến nguồn nhân lực để vừa thu hút được nguồn vốn đầu tư mới vào các dự án y tế theo hình thức PPP, vừa phát huy được hết công suất của các cơ sở y tế được đầu tư hiện đại, trong đó có các BV tư nhân, để có điều kiện phục vụ nhân dân tốt hơn.

Bộ Y tế phải phát huy tinh thần chủ động để kết nối giữa các bệnh viện và các nhà đầu tư tư nhân, thúc đẩy các dự án PPP trong lĩnh vực y tế, Phó Thủ tướng nhấn mạnh.

Theo các chuyên gia của Công ty Tài chính quốc tế (IFC) và WB, nhiều nước trên thế giới hiện nay đều đang phải đối mặt với áp lực tài chính công ngày càng tăng đối với các dịch vụ công cộng, đặc biệt là y tế khi chi tiêu cho lĩnh vực này trên toàn cầu đã vượt 4 nghìn tỷ USD (9% GDP toàn cầu). Ngân sách công thường không đủ đáp ứng nhu cầu chăm sóc y tế của người dân, thậm chí tại các nước thu nhập thấp, người dân thường phải trả tới 60% chi phí y tế. Và hình thức PPP có thể huy động nguồn tài chính tư nhân, tăng khả năng tiếp cận và hiệu quả trong việc cung cấp các dịch vụ y tế cho người dân.

Ông Dirk Summer, chuyên gia của IFC, cho biết việc triển khai các dự án PPP về y tế tại Australia đã góp phần giảm chi phí vượt ngân sách từ 18% xuống 4,3%, tỷ lệ chậm tiến độ giảm từ 25,9% xuống 1,4% so với các dự án thực hiện theo phương thức truyền thống. Đồng thời, đến nay số dự án PPP trong y tế thời kỳ đầu thất bại là khá ít.

Còn tại Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Y tế Phạm Lê Tuấn cho biết nhu cầu chăm sóc y tế của người dân ngày càng cao, tình trạng quá tải của các bệnh viện công (đặc biệt ở tuyến Trung ương), sự phát triển mạnh các phòng khám và bệnh viện tư nhân… là những điều kiện thuận lợi để mô hình PPP trong lĩnh vực y tế phát triển. Đến nay, các hình thức liên doanh, liên kết xã hội hóa trong đầu tư trang thiết bị giữa các BV công lập và tư nhân đã huy động được nguồn vốn trên 3.200 tỷ đồng. Tuy nhiên, việc thiếu một hệ thống cơ chế, chính sách toàn diện về PPP trong y tế, từ loại hình đầu tư đến thủ tục triển khai phức tạp, cơ chế sử dụng vốn Nhà nước vào các dự án chưa rõ ràng… đã khiến việc các dự án PPP trong lĩnh vực y tế chưa thực sự hấp dẫn các nhà đầu tư tư nhân.

Toàn cảnh buổi hội thảo

Toàn cảnh buổi hội thảo

Hội thảo đã ghi nhận ý kiến của một số nhà đầu tư, các BV tư nhân, cũng như lãnh đạo một số BV công lập cho rằng vấn đề quan trọng nhất là cần phải xác định cho được cơ chế chính sách cụ thể đối với hợp tác công-tư trong lĩnh vực y tế với 3 lĩnh vực chính: Đất đai, vốn, nguồn nhân lực.

Giám đốc Sở Y tế tỉnh Phú Thọ Hồ Đức Hải cho biết, với sự ủng hộ của lãnh đạo tỉnh này, BV Đa khoa Phú Thọ đã hợp tác, huy động nguồn vốn đầu tư bên ngoài để cải thiện nâng cấp cơ sở điều trị, trang thiết bị, trình độ y bác sĩ, đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh của người dân.

“Nếu trước kia doanh thu mỗi ngày của BV chỉ 100-200 triệu đồng thì hiện nay mỗi ngày BV thu gần chục tỷ đồng. Trước kia BV phải chuyển lên tuyến Trung ương 60-70% ca bệnh khó thì nay chỉ còn 10%”, ông Hải cho biết.

GS.TS Nguyễn Tiến Quyết, Giám đốc BV Việt Đức, nhấn mạnh đến việc tạo ra cơ chế, chính sách đồng bộ để bảo đảm quyền lợi của các bên (Nhà nước, BV, nhà đầu tư, người dân) khi triển khai một dự án y tế theo mô hình PPP, với mục tiêu cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế có chất lượng ngày càng cao cho người dân.

GS.TS Đỗ Tất Cường, Giám đốc BV Vinmec, đề xuất bên cạnh việc triển khai các dự án PPP trong lĩnh vực y tế cũng cần có cơ chế để kết hợp được lợi thế về vốn, đất đai của BV tư với nguồn nhân lực có kỹ thuật của BV công.

Tuy nhiên, việc tìm kiếm mô hình PPP phù hợp, hiệu quả ở Việt Nam không đơn giản khi khung pháp lý về vấn đề này chưa hoàn thiện; có chiến lược cụ thể cho hình thức hợp tác này; thiếu diễn đàn chia sẻ thông tin… Do đó, không ít ý kiến tại hội thảo cho rằng cần thực hiện thí điểm một vài dự án PPP cụ thể trong lĩnh vực y tế, qua đó tổng kết, rút kinh nghiệm để đưa ra những điều chỉnh cụ thể về cơ chế, chính sách phù hợp với thực tiễn Việt Nam.

Tại hội thảo, báo cáo của IFC đã đưa ra một số mô hình PPP y tế thành công trên thế giới đã góp phần giảm tải cho các bệnh viện công, tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ y tế chất lượng cho người dân. Cụ thể như mô hình trung tâm ngoại trú dành cho một số hoạt động y tế như phẫu thuật, chạy thận nhân tạo, X-quang, BV công-tư…

Khuyến nghị được IFC đưa ra đối với Việt Nam là mô hình các dự án PPP trong y tế và các cách tiếp cận cần phải được chuẩn hóa để đảm bảo kết quả đầu ra tối ưu. Điều quan trọng là không nên xem mô hình PPP là công cụ để cung cấp dịch vụ y tế cho những người có thể chi trả, mà nên được thực hiện nhằm thanh toán cho những bệnh nhân nghèo không có bảo hiểm để họ có thể sử dụng các dịch vụ chất lượng thông qua hợp tác công tư.

(Chính Phủ)

Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về [email protected]
Thích và chia sẻ bài này trên