Chủ đề

(Xã hội) - Tỷ lệ sinh con thứ hai giảm ở khu vực thành thị nhưng tỷ lệ sinh con thứ ba trở đi vẫn gia tăng ở khu vực nông thôn, hay nhóm người nghèo thành thị đang là vấn đề đau đầu các nhà làm chính sách hiện nay. Điểm qua một số báo, có thể thấy những quan điểm trái ngược: ở TP.HCM và các thành phố lớn, người ta đang bàn đến chuyện khuyến khích sinh thêm con kẻo tình trạng dân số “già hóa” đang ở mức báo động; ở các địa phương. Vùng nông thôn, lại thấy bàn tới các biện pháp tuyên truyền hay siết chặt “sinh đẻ” có “kế hoạch” hơn nữa.

Chương trình “sinh đẻ có kế hoạch” được thực hiện ở Việt Nam (và cả nhiều quốc gia xã hội chủ nghĩa, như “chính sách một con”, ở Trung Quốc) trong vòng 30 năm qua đã gây nhiều tranh cãi, chỉ trích trong nước lẫn quốc tế. Tuy nhiên, chương trình vẫn được thực hiện và cho đến giờ, nhiều người vẫn tin rằng hạn chế sinh đẻ là cần thiết để chống lại nghèo đói. Nếu không hiểu được quan niệm đó sai ở đâu, e rằng những chính sách sắp tới cũng sẽ lại tiếp tục những sai lầm này.

Chính sách để sinh nhiều con hay ít con?

Trước hết, các biện pháp chế tài để điều chỉnh tỷ lệ sinh đẻ là dựa vào hệ thống công chức nhà nước, như cắt giảm thi đua, kỷ luật, buộc thôi việc… Tuy nhiên, những biện pháp này không tác dụng gì mấy đối với người dân nông thôn làm trong ngành nông nghiệp, hay người lao động tự do, vì họ không đi làm ở cơ quan thuộc Nhà nước nên chẳng ai phạt được họ nếu họ sinh nhiều con hơn quy định. Đó cũng là một phần lý do sự mất cân bằng tỷ lệ nói trên.

Sai lầm thứ hai mà những chương trình tuyên truyền, các biện pháp chế tài về sinh đẻ đã không tính đến, đó là sinh nhiều con không phải do thiếu hiểu biết, mà do nhu cầu. Nhu cầu này vừa mang tính tự nhiên về tình cảm và duy trì nòi giống của con người, vừa mang ý nghĩa về kinh tế. Ở một đất nước phần lớn còn phụ thuộc vào nông nghiệp, trong khi đặc điểm nền kinh tế nông nghiệp còn thô sơ, nhỏ lẻ là cần nhiều lao động, việc sinh nhiều còn là tất yếu, mang tính sống còn đối với người dân.

Ngoài ra, ở Việt Nam cũng như nhiều quốc gia mà các chính sách an sinh xã hội còn rất yếu và thiếu, việc sinh nhiều con đối với những người không làm trong khối nhà nước (nên không có lương hưu), hay người có thu nhận bấp bênh… như là tấm lưới an sinh thay thế chính sách, là “của để dành”, là nơi nương tựa của họ khi tuổi già và bệnh tật.
Vì thế, chừng nào nền kinh tế nói chung, nền nông nghiệp nói riêng chưa chuyển sang công nghiệp hóa, chừng nào hệ thống an sinh xã hội còn chưa được thiết lập tốt hơn, chưa khiến người dân an tâm trước những rủi ro của cuộc sống, thì những biện pháp chắn ngốn một lượng kinh phí không nhỏ sẽ vẫn không mấy tác dụng!

Vì thế, có thể nói nghèo đói (kinh tế dựa vào nông nghiệp thô sơ và an sinh xã hội kém) tạo nên việc sinh nhiều, chứ không phải ngược lại như vẫn được tuyên truyền. Chính vì sự đổ lỗi sai lầm đó, mà bao nhiêu năm qua một số lượng lớn cán bộ địa phương tập trung làm “tuyên truyền sinh đẻ có kế hoạch” như nhiệm vụ chính để “giúp người dân vượt qua đói nghèo” hơn là tìm những phương cách phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn một cách hữu hiệu.

Đó là chưa kể, chính sách “sinh đẻ có kế hoạch” còn đem lại nhiều vấn đề “dở khóc dở cười”, như công chức, trí thức lỡ sinh con thứ ba coi như mất hết danh dự, cơ hội thăng tiến, thậm chí cả việc làm; hay chuyện nhiều người đi triệt sản chỉ để nhận được thù lao, kể cả thanh niên… 19 tuổi! Nay trước khi bàn đến những biện pháp nơi thì khuyến khích sinh thêm con, nơi hạn chế sinh đẻ, có lẽ các nhà làm chính sách đã đến lúc phải suy nghĩ một cách khoa học và có tầm nhìn lớn là tiếp tục đổ tiền ngân sách để điểu chỉnh những con số thống kê nhân chủng học.

TY (TBKTSG)

Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về [email protected]
Thích và chia sẻ bài này trên