Chủ đề

(Thời sự) - Trong chuyến công du các quốc gia Á Châu để chuẩn bị hậu thuẫn dư luận trước khi xâm lược Việt Nam, Đặng Tiểu Bình vừa hùng hổ vừa tức tối nói một câu không xứng đáng với tư cách của một người lãnh đạo một nước lớn “Việt Nam là côn đồ, phải dạy cho Việt Nam bài học”.

Câu “Việt Nam là côn đồ” được các đài truyền hình Trung Quốc phát đi và chính ông Dương Danh Dy, nguyên Tổng Lãnh Sự Quán Việt Nam tại Quảng Châu, đã xem đoạn phóng sự truyền hình đó “Tôi không bao giờ có thể quên vẻ mặt lỗ mãng và lời nói “bạo đồ” đầy giọng tức tối của ông ta qua truyền hình trực tiếp và tiếng người phiên dịch sang tiếng Anh là “hooligan” – tức du côn, côn đồ.”

Trong bài nói chuyện xuyên tạc đó, ông Đặng Tiểu Bình cũng gọi Việt Nam là ‘Cuba Phương Đông’, hàm ý là ‘tay sai Liên Xô’, và gọi các lãnh đạo Việt Nam là ‘điên cuồng’.

Đặng Tiểu Bình, kẻ đang rao giảng “Việt Nam là côn đồ, phải dạy cho Việt Nam bài học”.

Xin nhấn mạnh rằng những câu nói như “đánh trả tự vệ”, “trừng phạt có giới hạn”, “Cu Ba phưong đông”, “Việt Nam xâm lược”… chỉ là những lời vu cáo bịa đặt trắng trợn của Đặng Tiểu Bình, người cầm đầu, chủ trương gây ra cuộc chiến.

Đánh Việt Nam để củng cố quyền lực

Đặng Tiểu Bình được phục hồi lần chót vào tháng 7, 1977 với chức vụ Phó Chủ Tịch BCH Trung Ương Đảng, Phó Chủ Tịch Quân Ủy Trung Ương, Phó Thủ Tướng, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc. Tuy nhiên, tất cả chức vụ này không đồng nghĩa với việc tóm thu quyền lực. Sự đấu tranh quyền lực trong nội bộ đảng CSTQ ngày càng căng thẳng. Ảnh hưởng của họ Đặng chỉ gia tăng sau chuyến viếng thăm Đông Nam Á và đặc biệt sau Hội Nghị Công Tác Trung Ương từ ngày 10 tháng 11 đến ngày 15 tháng 12, 1978.

Đặng Tiểu Bình nắm được Bộ Chính Trị CSTQ nhưng về mặt đối ngoại, Đặng Tiểu Bình phải thuyết phục các quốc gia Đông Nam Á, Á Châu và nhất là Mỹ.

Nhận định của một vị tướng về cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc 1979

Nhận định của một vị tướng về cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc 1979

Vẫn tác phong nhanh nhẹn, hồ hởi và lối tư duy sắc sảo, mạch lạc của người chỉ huy chiến đấu năm xưa khi anh kể lại những kỷ niệm sâu sắc trong những tháng năm ở chiến trường....

Tìm đồng minh

Cuối năm 1978, Đặng Tiểu Bình, thực hiện một chuyến công du chính thức và lịch sử với tư cách lãnh đạo tối cao của Trung Quốc để dọn đường đánh Việt Nam.

Họ Đặng viếng thăm hàng loạt quốc gia châu Á như Nhật, Thái Lan, Mã Lai, Singapore, Miến Điện, Nepal. Tại mỗi quốc gia thăm viếng, họ Đặng luôn đem thỏa ước Việt-Xô ra hù dọa các nước láng giềng như là mối đe dọa cho hòa bình và ổn định Đông Nam Á. Trong các chuyến công du nước ngoài, việc viếng thăm Mỹ đương nhiên là quan trọng nhất.

Nỗi sợ bị bao vây

Câu nói của họ Đặng không phải phát ra từ cá lý do trên mà chính từ nỗi sợ bị bao vây. Học từ những bài học cay đắng của mấy ngàn năm lịch sử Trung Hoa, nỗi sợ lớn nhất ám ảnh thường xuyên trong đầu các thế hệ lãnh đạo Trung Quốc là nỗi sợ bị bao vây.

Ông Chu Ân Lai đã đối thoại với Thủ tướng Phạm Văn Đồng: “Trong một thời gian dài, Trung Quốc bị Mỹ bao vây. Bây giờ Liên Xô bao vây Trung Quốc, ngoại trừ phần Việt Nam”.

Không những Trung Quốc sợ bao vây từ phía nam, vùng biên giới Lào mà còn lo sợ bị cả khối Việt Miên Lào. Để cô lập Việt Nam và ngăn chận khối Việt Miên Lào liên minh nhau, ngay từ tháng 8 năm 1975, Đặng Tiểu Bình cũng hỗ trợ Khieu Samphan, nhân vật số ba trong Khmer Đỏ.

Họ Đặng kêu gọi Campuchia đoàn kết với Trung Quốc trong việc ngăn chặn Việt Nam. Tháng Sáu, 1978, Việt Nam chính thức tham gia COMECON và tháng 11 cùng năm Việt Nam ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác có bao gồm các điều khoản về quân sự với Liên Xô. Tháng 12 năm 1978, Việt Nam đưa quân sang Campuchia đánh bật tập đoàn Pol Pot vào rừng. Đặng Tiểu Bình quyết định đánh Việt Nam.

Tuyên truyền và bưng bít thông tin

Trung Quốc đã tuyên truyền là “Việt Nam xua đuổi người Hoa”. Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh cho biết “Họ nói họ phải đưa hai tàu vào TP.HCM và Hải Phòng để đón cái gọi là ‘nạn kiều’ của họ,”.

“Khi Campuchia đánh phía Tây Nam Việt Nam, chúng tôi đánh lại, thì họ tuyên truyền là chúng tôi xâm lược Campuchia.”

Tuy nhiên ông Vĩnh cũng nói khi đó, báo chí Trung Quốc không hề đả động đến hành động diệt chủng của chính quyền Khmer Đỏ.

“Lúc bấy giờ mấy sư đoàn của Pol Pot là do Trung Quốc trang bị. Họ trang bị cho đồng minh của họ để xúi Pol Pot đưa quân đánh phía Tây Nam Việt Nam”.

Một vấn đề nực cười khác là, khi khai thác thông tin ban đầu từ một số tù binh Trung Quốc trước khi thả về nước kể lại cho thấy chính sách tuyên truyền hết sức nực cười:

Lúc ấy Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mất được 10 năm rồi mà họ không biết và nói nguyên văn là “Tập đoàn phản động Lê Duẩn bắt giam Hồ Chủ Tịch, gây sự chia rẽ giữa hai bên và chúng ta sang đây để đánh tập đoàn phản động bành trướng tiểu bá Lê Duẩn để giải cứu cho Chủ tịch Hồ Chí Minh.”

“Trung Quốc sang giải cứu Chủ tịch Hồ Chí Minh”?

“Trung Quốc sang giải cứu Chủ tịch Hồ Chí Minh”?

Ông Ngô Nhật Đăng, một người từng tham gia Cuộc chiến Biên giới 1979, đang sống ở Hà Nội, vẫn còn nhớ ngày vào quân ngũ và sau đó lăn lộn bốn năm ở vùng biên giới.  Đó là ngày 25/8/1978...

Quyết định của Đặng Tiểu Bình

Mặc dầu có sự chia rẽ trong nội bộ Bộ Chính Trị, quyết định tối hậu trong việc đánh Việt Nam là quyết định của Đặng Tiểu Bình. Tại phiên họp mở rộng ngày 31 tháng 12, 1978 Đặng Tiểu Bình chính thức đề nghị thông qua kế hoạch tấn công “trừng phạt” Việt Nam. Trong phiên họp này Đặng Tiểu Bình cử Tướng Hứa Thế Hữu, Tư lệnh cánh quân từ hướng Quảng Tây, Tướng Dương Đắc Chí, đương kiêm Tư lệnh Quân Khu Vũ Hán, chỉ huy cánh quân từ hướng Vân Nam.

Yếu kém

Trong một bài phát biểu được nhà nghiên cứu Dương Danh Hy dịch ra tiếng Việt, nhà lãnh đạo Trung Quốc khi đó là Đặng Tiểu Bình xác nhận đó là cuộc chiến “giết gà đã phải dùng dao mổ trâu”. Cụ thể “vũ khí, quân số đều gấp mấy lần Việt Nam. Chiến đấu ở Cao Bằng chí ít là năm đánh một, sáu đánh một, chiến đấu ở Lạng Sơn, Lào Cai cũng đều gấp mấy lần, thậm chí sáu đánh một, bảy đánh một”.

Quân chính quy Trung Quốc không thể chiến thắng bộ đội địa phương và dân quân tự vệ Việt Nam

Trung tướng Nguyễn Hữu Khảm cho biết qua thực tế chiến trường, chúng tôi thấy trình độ tác chiến, kỹ năng chiến đấu của quân Trung Quốc còn kém, lính rất nhát. Bởi bao nhiêu năm quân đội Trung Quốc không đương đầu với cuộc chiến tranh nào nên khi chạm trán với những người lính thiện chiến Việt Nam, lính Trung Quốc rất lúng túng, chỉ dựa vào quân đông và hỏa lực mạnh. Tư tưởng của người lính trên chiến trường có ý nghĩa quyết định thắng bại. Quân đội ta đánh Pháp, đánh Mỹ và vừa đánh thắng bọn Pôn Pốt ở Campuchia hơn một tháng trước đó có tác động đến tư tưởng của quân Trung Quốc. Họ run sợ. Nếu cố tiến sâu nữa thì Trung Quốc sẽ thiệt hại nặng nề hơn.

Tốc độ tấn công của Trung Quốc quá chậm. Ở các hướng, tính bình quân mỗi ngày họ chỉ tiến được hơn 1 cây số. Bởi họ đã vấp phải sự kháng cự dũng cảm của quân và dân ta. Ở Lào Cai, một quân đoàn của Trung Quốc mà đánh nhau với một trung đoàn của ta còn mất hàng tuần mới tiến được có mấy cây số.

Trung Quốc nói tiêu diệt quân chủ lực của ta nhưng không có chuyện đó. Mặc dù lực lượng mạnh như thế nhưng tấn công xâm lược mà không diệt gọn được đại đội nào của ta. Ta lượng sức mình yếu trước kẻ mạnh nên phải bảo toàn lực lượng, có đơn vị vừa đánh vừa rút. Và thực chất là tháng 2/1979, Trung Quốc mới đánh nhau với bộ đội địa phương và dân quân tự vệ ở biên giới của ta thôi. Thế mà họ đã bị thiệt hại nặng nề.

Trung tướng Nguyễn Hữu Khảm nhận định: Trung Quốc đã thất bại cả về quân sự, chính trị, ngoại giao; cả về ý nghĩa xã hội, nhân văn. Phát động một cuộc chiến tranh xâm lược như thế, họ muốn gây sức ép buộc ta rút quân khỏi Campuchia và kéo dài việc đàm phán phân định biên giới. Nhưng qua cuộc xâm lược ấy, họ thể hiện sự yếu kém. Cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Quốc đã thua về nhiều mặt chứ chẳng vẻ vang gì như họ vẫn tuyên truyền lâu nay.

Có một điều đặc biệt là trong cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc, bất chấp các đơn vị bộ binh bị thiệt hại nặng nề, và liên tiếp thất bại trước Quân đội Nhân dân Việt Nam, không quân Trung Quốc không hề dám cất cánh oanh tạc, yểm trợ cho mặt đất. Đó là bởi, Trung Quốc quá lo sợ sức mạnh của lực lượng phòng không – không quân Việt Nam, đã từng đánh thắng cả không lực Mỹ. Trước các phi công Việt Nam đều rất lão luyện trận mạc, giỏi không chiến, không quân Trung Quốc chắc chắn sẽ chuốc lấy thất bại, nên họ không thể liều lĩnh khiêu chiến với những cánh én bạc MiG-21 của Việt Nam.

Tên gọi

Trung tướng Nguyễn Hữu Khảm, người trực tiếp chỉ huy bộ đội chiến đấu chống quân Trung Quốc trên biên giới phía Bắc cho biết: Tôi có một suy nghĩ khác với nhiều người về cuộc chiến tranh đó. Lâu nay chúng ta quen với tên gọi là Cuộc chiến tranh biên giới Việt – Trung, như vậy không đúng.

Dân quân Việt Nam áp giải tù binh Trung Quốc năm 1979

Theo tôi, phải gọi đó là cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Quốc chống Việt Nam. Lý do là hai nước láng giềng, có quan hệ hữu nghị gắn bó từ những năm chúng ta còn kháng chiến chống Pháp. Biên giới lãnh thổ đã được phân định rõ ràng. Vậy mà phía Trung Quốc ngang nhiên đưa hàng chục vạn quân đánh sâu vào lãnh thổ Việt Nam. Trung Quốc đã dùng sức mạnh áp đảo để chiếm 4 thị xã và hàng chục huyện dọc biên giới của ta trong thời gian gần một tháng. Như vậy rõ ràng phải gọi nó là cuộc chiến tranh xâm lược.

CTV Hoàng Sa

Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về banbientap@nguyentandung.org
Thích và chia sẻ bài này trên