Chủ đề

(Bạn đọc) - ( Kịch bản văn học và lời bình fim tài liệu cùng tên của Lê Bá Dương)

Trong ngàn vạn các liệt sỹ của cả nước, các liệt sỹ ở Trường Sa không nhiều. Từ 64 Liệt sỹ hy sinh cùng trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền thiêng liêng trên cụm đảo Len Đao, Gạc Ma, Cô Lin…năm 1988, những năm sau đó, lần lượt đã có thêm những đứa con của mẹ Việt Nam tiếp tục về với đồng đội mình nơi vĩnh hằng biển đảo. Đâu chỉ chiến tranh, đầu tên, mũi đạn… có nhiều nguyên nhân cho sự hy sinh thân mình của những người lính dấn thân làm nhiệm vụ trên những điểm đảo hun hút giữ trùng khơi xa bến xa bờ 3 đến 4 ngày chạy tàu.

Một trong những người lính hy sinh như vậy là chiến sỹ Trần Văn Cường. Chàng trai quê ở Nghĩa Hồng, huyện Nghĩa Hưng ( Nam Định) nhập ngũ và ra đảo Sinh Tồn vào năm 1998. Nhìn Anh lính trẻ qua một năm chịu sóng, dạn gió giữa trùng khơi, chẳng ai nghĩ đến một ngày tháng 6 năm 1999, Cường đã hy sinh. Một trận ốm với căn nguyên bệnh vượt quá khả năng chuyên môn của tổ bác sỹ và phương tiện trên đảo. Thực sự nếu ở đất liền, chỉ mấy phút chạy xe cấp cứu, sự sống của người lính sẽ được bảo toàn. Nhưng giữa biển khơi, từ đảo về đất liền nếu trong mùa sóng yên biển lặng thì cũng phải mất trên 3 ngày hải trình. Gần hơn từ đảo này sang điểm đảo kia gần nhất cũng già nửa ngày chạy tàu tốc lực… Và trong tình huống bất khả kháng đó, Cường đã ra đi. Tiếc thương người bạn, người đồng đội, và trên cả tiếc thương là sự đau đớn đến tột cùng khi những người lính đảo phải cắn răng dằn nén nỗi đau đếm trừ từng giây phút cuối đời của đồng đội mình nơi biên đảo.

5b3533055dts_1_ATPZ

Tàu HQ-505 trên bãi Cô Lin, tháng 3.1988 – Ảnh: Tư liệu Bộ Quốc phòng

Một chiều trước khi rời đảo ra tàu với đoàn công tác, tôi một mình tìm ra mộ Cường. Tới nơi đã thấy thượng tá Đỗ Như Phú, chủ tịch huyện đảo Trường Sa và các chiến sỹ cũng đã ra đó tự lúc nào. Thì ra, đã thành tập quán, người mới ra vẫn giành giây phút đầu đặt chân lên đảo để đến hương khói cho đồng đội như một lễ nhập đảo nối tiếp công việc của người đi xa. Những ai hoàn thành công việc, trước lúc vào bờ hoặc chuyển sang đảo khác thì một tuần nhang là một lễ rời đảo với nghẹn ngào một lời chào đồng đội giữa trùng khơi. Chờ tôi cẩn trọng thắp thêm một thẻ nhang trên mộ Cường, Thượng tá Đỗ Như Phú nghèn nghẹn khấn thành lời như hẹn: Cường ơi, em hy sinh ở tuổi 19, đến giờ đã là tuổi 23. Lần này các anh về chưa thể đưa di cốt của em theo vào. Nằm trên đảo với anh em thêm một năm nữa, sang năm thuận sóng, thuận gió các anh sẽ đưa em về với bố, với mẹ trong bờ.

Trưa Trường Sa, gió mằn mặn dìu khói hương từ mộ người lính đảo toả theo từng vành sóng biển mà hoá vào ngăn ngắt xanh đại dương. Nhìn từng người lính mắt ngân ngấn nước đang chạm tay lần cuối vào thành mộ đồng đội, tôi đã phải dằn lòng để không oà khóc thành tiếng trước cuộc chia tay Trường Sa.

Từng là một người lính thời chiến tranh giải phóng, tôi quá hiểu và thấm đậm những dữ dội sinh tử diễn ra trong trận mạc. Tuy vậy trên mặt trận thời đó ở đất liền, cho dù có gian nan, ác liệt đến đâu thì những người lính giải phóng chúng tôi vẫn còn có đất mà trụ, mà tựa vào để chiến đấu. Với những người lính ở Trường Sa, phía trước, phía sau, hai bên tả hữu đều vẫn là biển, là sóng, là gió… Vậy nên trận mạc giữa thời bình ở nơi biển đảo là cuộc chiến nghiệt ngã với duy nhất một điểm tựa là lời thề giữ biển đảo quê hương.

Khác với đảo Sinh Tồn, Những ai lên đảo Toc Tan, ấn tượng đầu tiên là bắt gặp ngay mớp bờ đảo một phần mộ bia được xây nép vào chân công sự. Trên phần bia ghi rõ tên họ của những người hy sinh. Đó là liệt sỹ Lâm Sơ Đệ, quê ở Tuy Hoà, liệt sỹ Trần Kim Ánh ở Nha Trang, liệt sỹ Trương Văn Vĩ quê ở Thủ Đức… Tất cả hy sinh cùng ngày 27/11/1988. Hôm tôi đến Toc Tan, vừa lên khỏi bờ đảo đã nhìn thấy bệ thờ còn nguyên mấy gói bánh xốp cùng những chân nhang cũ mới cắm cụm trong chiếc lư sành. Đã có sự chuẩn bị trước, Trung tá Dương, nguyên đảo trưởng Toc Tan lặng lẽ đặt lên bệ thờ nải chuối anh mang từ đất liền ra. Đốt một nén nhang thơm cắm thêm vào lư hương, Dương bồi hồi kể lại: Tại đảo này đã có hàng chục cán bộ, chiến sỹ hy sinh vào tháng 4/1988. Cuộc chiến đấu giữa biển khơi vào những ngày đầu giữ đảo, thi hài anh em chưa kịp chuyển đi đã bị triều lên cuốn theo vào lòng biển. Riêng 3 liệt sỹ hy sinh cuối năm đó được khắc tên trên mộ bia này cũng vậy. Vào cuối tháng 11/1988, trong khi vật lộn với sóng biển để dựng nhà sàn trên đảo, cả 3 người lính đã bị sóng ngầm cuốn hun hút vào lòng đại dương. Dựng cho những người lính đã hoá mình vào biển một phần mộ bia, ngay sau đó vào năm 1996, chính Phạm Văn Long, điểm trưởng điểm đảo Toc Tan cũng nằm lại vĩnh hằng với đồng đội của mình. Cũng sẽ cần phải nghĩ đến việc khắc vào tấm bia trên đảo đầy đủ tên những người lính đã hy sinh trên vị trí của những người giữ đảo, để ngày ngày những thế hệ người lính đảo chúng ta luôn có cảm giác những người đồng đội thân yêu của mình vẫn hiện hữu bên cạnh cùng tựa vào nhau canh giữ biển đảo thân yêu. Rưng rưng một chiều trên đảo nhỏ Toc Tan, thắp thêm một nén nhang cho người khuất sóng, bất chợt nhìn mộ bia ghi tên 3 liệt sỹ tựa mình vào thành công sự, trên đó kế ngay mũi súng nhô cao là 3 chiếc mũ sắt xếp thẳng hàng bên nhau. Bất chợt trong nhạt nhoà nước mắt, bóng những đồng đội tôi đâu đó từ biển hiện về lặng lẽ bước vào ụ súng giữa tiếng sóng, tiếng gió Trường Sa.

Vâng, Trong ngàn vạn các liệt sỹ của cả nước, các liệt sỹ ở Trường Sa không nhiều. Từ 64 Liệt sỹ hy sinh cùng trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền thiêng liêng trên cụm đảo Gạc Ma, Cô Lin… năm 1988, những năm sau đó, lần lượt đã có thêm những đứa con của mẹ Việt Nam tiếp tục về với đồng đội mình nơi vĩnh hằng biển đảo. Và không như trong bờ, cuộc sống khắc nghiệt đối mặt với bốn bề biển khơi xa bến, xa bờ nơi biên đảo đã chuyển hình thái hy sinh của những người lính giữ đảo thành sự hoá thân vào lòng đại dương. Không chỉ 64 liệt sỹ hy sinh trong những ngày đấu tranh kiên dũng để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, Những người hy sinh sau đó, dẫu có ở trên đảo thì hình hài cũng thấm qua từng hạt cát Trường Sa mà về với biển. Sống vì biển đảo, chết hoá mình vào sóng nước. Biển Trường Sa thay mẹ Việt Nam giang rộng vòng tay đón những đứa con yêu của mẹ vào lòng biển.

Đã thành tập quán, để tưởng nhớ đến những người đã hoá hình hài mình thành hồn biển khơi. Những đồng đội ở Trường Sa mỗi lần đến hoặc rời quần đảo Trường Sa đều tổ chức lễ thả hương hoa trên biển. Và như một cơ duyên, trong chuyến đi cùng đoàn công tác lần này, tôi cũng đã được cùng những người lính biển thả vào lòng đại dương một nén hương hoa.

1234325Hôm đó trên hải trình tàu vừa chạm vào trước bờ xanh đảo Cô Lin. Theo lệnh của thượng tá Đỗ Như Phú, thuyền trưởng Nguyễn Văn Đoàn cho sỹ quan trực lái kéo ba hồi còi chào đảo và buông neo. Theo kế hoạch được phổ biến từ trước, sau hồi còi, tất cả các sỹ quan, chiến sỹ có mặt trên tàu ai nấy quân phục chỉnh tề túa lên mặt boong rồi tự động xếp thành đội hình dọc theo mạn tàu. Đã có sự chuẩn bị trước, các sỹ quan trong đoàn công tác chuyển lên trước đội hình một bè hoa, trên đó kết nổi một nải chuối, một trái dừa còn tươi nguyên. Lễ mọn, lòng thành, một chút hương quê của mẹ, của cha theo tàu ra biển, những mong ấm lòng đồng đội chốn biên đảo xa bến, xa bờ. Nhìn những người lính mới trước đó còn vật vã với cơn say sóng, nay bỗng tỉnh táo đứng nghiêm lặng quanh bè hoa, tôi có cảm nhận như sự thiêng liêng đã được nhân lên gấp nhiều lần.

Buổi lễ ngắn gọn mà chan chứa cảm xúc thiêng liêng. Nghèn nghẹn trong trong khói hương lời ai điếu của người sỹ quan chính trị như dựng lại những giây phút cuối đời của những cán bộ chiến sỹ ưu tú của hải quân Việt Nam – những người lính cụ Hồ trên biển đã anh dũng hy sinh trong cuộc đấu tranh bảo vệ biển đảo Trường Sa, chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc. Không khí thiêng liêng dồn nén, mồn một vọng về từ Gạc Ma, tiếng liệt sỹ Trần Đức Phương trước lúc hoá mình vào biển: Vì Tổ quốc, chúng ta không thể lùi bước! Hãy để cho máu mình tô thắm cờ Tổ quốc Việt Nam trên tuyến đảo Trường Sa… Và trong hương khói giữa trùng khơi, rành rọt từng lời đồng đội gửi về lòng biển: Với sự dồn sức của cả nước, Trường Sa bây giờ đã đã mạnh hơn rất nhiều về mọi mặt. Đồng đội ơi, xin các anh hãy yên lòng thanh thản nơi biển đảo. Chúng tôi lớp lớp thế hệ Trường Sa sẽ tiếp nối nhau tựa vào các anh, tựa vào nền biển đảo tiếp tục thực hiện lời thề Trường Sa, giữ gìn trọn vẹn từng tấc biển đảo quê hương.

Từng là người lính liên tục gần 30 năm, năm nào cũng một đôi lần về Quảng Trị để với một việc thắp hương trên đồi, trên núi, kết hoa thả xuống từng lòng sông vọng nhớ đồng đội. Lần này được cùng các đồng đội hải quân thả hương hoa viếng đồng đội trên mênh mang đại dương. Trong nền nhạc tấu ca khúc chiêu hồn tử sỹ, tôi đã phải nén chặt từng cơn nấc nghẹn xúc cảm vào lòng để ghi lại những hình ảnh không dễ gì có được trong đời. Nhập nhoà trong khuôn hình máy ảnh, những đồng đội của tôi đang từ từ thả dây đưa chiếc bè hoa xuống mặt biển. Và biển như có đồng đội hoá hồn bỗng cuộn sóng dềnh lên đón nhận chiếc bè hoa từ tay các đồng đội trên tàu. Trong giây phút linh thiêng, bỗng bật lên những tiếng nuốt sâu trong lồng ngực những người lính đảo khi nhìn bè hoa được biển nhận về dập dờn trên đỉnh sóng bỗng như đỏ hơn, tươi hơn trên thăm thẳm biển xanh.

Và lạ kỳ chưa, trên mênh mang Trường Sa, bỗng âm vọng lời ai hát như một lời nguyền cho đảo xa, rằng… đảo ơi… đảo mãi sinh tồn.

Nguồn: FB Lê Bá Dương

Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về banbientap@nguyentandung.org
Thích và chia sẻ bài này trên