Chủ đề

Tình nghĩa giữa Việt Nam với nhân dân Mỹ và thế giới

(An Ninh Quốc Phòng) - Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, các phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam và bày tỏ tinh thần ủng hộ Việt Nam của người nước ngoài đã diễn ra khắp thế giới, đặc biệt ở ngay tại chính quốc Hoa Kỳ, và đặc biệt dữ dội trong giai đoạn từ năm 1964 đến 1973 khi đại quân Hoa Kỳ trực tiếp chiến đấu ở Việt Nam.

Xem lại các kỳ trước:

Tại Mỹ, phong trào bao gồm hơn 200 tổ chức quần chúng, trong đó có nhiều tổ chức nằm dưới dưới sự lãnh đạo của Ủy ban Phối hợp Toàn quốc đấu tranh đòi chấm dứt chiến tranh xâm lược ở Việt Nam. Được hàng trăm thành phố, hàng chục vạn người tham gia đấu tranh bằng nhiều hình thức phong phú và quyết liệt (mít tinh, biểu tình, đốt thẻ quân dịch, bãi khóa, chống lính, tự thiêu….).

Một vài sự kiện tiêu biểu như: Cuộc biểu tình đồng loạt của khoảng 10 vạn người ở 60 thành phố trong ngày Quốc tế phản đối chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Miền Nam Việt Nam (15-17/10/1965), do Ủy ban Ngày Việt Nam tổ chức; Tuần lễ chống chiến tranh xâm lược Việt Nam, tháng 10/1967 của khoảng 2 vạn người khắp nước Mỹ tập trung về Washington (có sự phối hợp đấu tranh của người dân các nước Canada, Anh, Đức, Pháp, Bỉ, Ý, Thụy Điển, Phần Lan, Na Uy, Đan Mạch, Úc….); có 16 vụ tự thiêu để phản đối cuộc chiến của Mỹ ở Việt Nam; năm 1968, gần 5 vạn thanh niên trốn lính trong phong trào chống đi lính; gần 1 ngàn trường cao đẳng và đại học tổng bãi khóa; gần 300 ngàn công nhân thuộc ngành hàng không, ngành điện…. đình công, làm tê liệt các ngành sản xuất này.

Xuất phát từ sự đàn áp bằng bạo lực và sự kỳ thị của cảnh sát da trắng tại nhiều nơi, ngày 7/8/1966 các cộng đồng người da đen đã phản ứng mạnh và gần như nổ ra nội chiến ở khoảng 100 thành phố, nhất là các thành phố ở California và New York, vùng Tây Nam và Đông Bắc Hoa Kỳ.

Khoảng 16 triệu trong số 27 triệu thanh niên Mỹ đến tuổi quân dịch đã chống lệnh cưỡng bách quân dịch, khoảng 2 triệu người Mỹ bị các chính quyền Mỹ cáo buộc “gây thiệt hại bất hợp pháp” vì phản đối chiến tranh Việt Nam. Trong phong trào chống bắt lính, có khoảng 75 ngàn người Mỹ đã phải bỏ ra nước ngoài vì không chịu nhập ngũ, và ở bên ngoài họ tiếp tục đấu tranh chống chiến tranh xâm lược, trong đó có người thanh niên Bill Clinton, người sau này là tổng thống Hoa Kỳ.

Trong những lần biểu tình phản đối chiến tranh xâm lược Việt Nam, người Mỹ giương cao các biểu ngữ: “Hey, hey LBJ, how many kids have you killed today?” (Lyndon B. Johnson, hôm nay ông đã giết bao nhiêu trẻ em rồi?), “Ho, Ho, Ho Chi Minh! The NLF is going to win!” (Hồ, Hồ, Hồ Chí Minh! Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam sẽ chiến thắng!).

Tóm tắt lại, cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam đã được bạn bè thế giới và Hoa Kỳ ủng hộ mạnh mẽ bằng nhiều hình thức phong phú. Trong đó, có:

  • Hơn 10 Ủy ban quốc tế đoàn kết với Việt Nam của các tổ chức dân chủ, tôn giáo và tổ chức xã hội trên toàn thế giới.
  • Hơn 200 tổ chức, ủy ban, phong trào đoàn kết ủng hộ Việt Nam ở hầu hết các nước trên thế giới.
  • Hơn 30 hội nghị quốc tế về Việt Nam và nhiều hội nghị quốc tế khác đã dành thời gian thảo luận bàn biện pháp để ủng hộ Việt Nam.
  • Hàng trăm nước có mít tinh, biểu tình, bãi công chống Mỹ xâm lược Việt Nam.
  • Hơn 50 nước có phong trào quyên góp ủng hộ Việt Nam.
  • 16 nước có phong trào hiến máu ủng hộ Việt Nam.
  • 48 người ở 4 nước ngoài tự thiêu (trong đó có 16 công dân Mỹ) để phản đối chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam.
  • 83 cơ quan đại diện Mỹ ở các nước bị người dân đập phá, cờ Mỹ bị nhân dân ở 73 nước đốt để phản đối chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam.
Sư đoàn Không Kỵ 1 của quân đội Mỹ tại khu vực cách Quảng Trị 8km về hướng nam (13/3/1968). Nơi đây từng là nơi đặt Bộ chỉ huy tiền phương của QĐNDVN, sau khi rút quân đã để lại một thông điệp trên tường bằng tiếng Anh. Tạm dịch: Không có sự hận thù giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Mỹ. Tại sao phải giết nhau? Hãy chung tay xây đắp tình bằng hữu của chúng ta". Ảnh: Bettmann/Corbris

Sư đoàn Không Kỵ 1 của quân đội Mỹ tại khu vực cách Quảng Trị 8km về hướng nam (13/3/1968). Nơi đây từng là nơi đặt Bộ chỉ huy tiền phương của QĐNDVN, sau khi rút quân đã để lại một thông điệp trên tường bằng tiếng Anh. Tạm dịch: Không có sự hận thù giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Mỹ. Tại sao phải giết nhau? Hãy chung tay xây đắp tình bằng hữu của chúng ta". Ảnh: Bettmann/Corbris

Người dân Mỹ giương cao cờ Mặt Trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và cờ Hoa Kỳ để nói lên tình hữu nghị Việt - Mỹ và bày tỏ nguyện vọng hòa bình, phản đối cuộc chiến của chủ nghĩa đế quốc ở Việt Nam.

Người dân Mỹ giương cao cờ Mặt Trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và cờ Hoa Kỳ để nói lên tình hữu nghị Việt - Mỹ và bày tỏ nguyện vọng hòa bình, phản đối cuộc chiến của chủ nghĩa đế quốc ở Việt Nam.

1. Ngọn lửa Morrison

Ngày 2/11/1965, 8 tháng sau khi quân đội viễn chinh Mỹ bắt đầu đặt chân vào Đà Nẵng của Việt Nam, một người Mỹ là Norman Morrison đã tự thiêu ngay trước Lầu Năm Góc ở thủ đô Washington để phản đối Chiến tranh Việt Nam. Hành động này đã làm bùng lên phong trào phản đối Chiến tranh Việt Nam đã âm ỉ từ lâu ngay trong lòng nước Mỹ.

Ông Norman Morrison quê quán ở Erie thuộc bang Pensylvania, Hoa Kỳ. Năm 1959, ông nhận bằng Cử nhân Thần học tại Đại học Pittsburgh Seminary và gia nhập hội “Những người bạn”, một tổ chức gồm những người hoạt động vì hòa bình thế giới. Năm 1961-1962, ông dạy Kinh Tân ước và Cựu ước tại một trường trung học. Ông là một trong những người hoạt động tích cực trong phong trào hoạt động phản đối cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của chính quyền Lyndon B. Johnson.

Từ năm 1965, khi Mỹ ồ ạt đưa quân vào miền Nam và dùng không quân đánh phá tràn lan ra các tỉnh miền Bắc Việt Nam, Morrison đã nhiều lần xuống đường phản đối, nhưng cuộc chiến tranh ngày một khốc liệt hơn. Ông nghĩ rằng các khẩu hiệu, băng rôn và các cuộc tuần hành không làm những người cầm quyền chú ý thì anh phải dùng tới biện pháp cuối cùng: Ngọn lửa của thân thể mình! Thời điểm đó, Morrison đã có vợ và hai con gái, nhỏ tuổi nhất là cháu bé tên Emily, mới 18 tháng tuổi. Buổi chiều ngày 2/11/1965, Morrison bế bé Emily đến sát Lầu Năm Góc, trụ sở của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, bên dòng sông Potomac, sau khi đã viết lá thơ gởi lại cho vợ. Morrison đặt cháu Emily ra xa rồi tưới xăng, châm lửa tự thiêu, ánh lửa bùng lên như một thông điệp của người dân Mỹ đòi chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược và các tội ác của quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam.

Norman Morrison

Norman Morrison

Theo hồi tưởng của vợ Norman Morrison, bà Anne Morrison Welsh, vào buổi sáng hôm đó, Morrison bế con gái thứ hai của mình, bé Emily, đi đến trước Lầu Năm Góc. Sau đó, ông đặt Emily xuống, gởi cho một người trong đám đông bạn bè đồng chí hướng vây quanh, tự đổ dầu lên người và châm lửa.

Trong cuốn hồi ký của mình, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ (1961-1968) Robert McNamara đã thú nhận: “Cái chết của Morrison không chỉ là bi kịch cho gia đình anh ta mà còn cả cho tôi và nước Mỹ. Đó là một tiếng kêu gào chống lại những giết chóc đang hủy hoại cuộc đời của những người Mỹ và người Việt.”

Trong phong bì để lại cho người vợ trước khi tự thiêu, Norman Morrison viết:

“Anne yêu quý, đừng chỉ trích anh. Đã nhiều tuần, thậm chí nhiều tháng, anh chỉ cầu nguyện được thấy điều anh phải làm. Sáng nay, thật tình cờ anh đã thấy nó, rõ ràng như điều anh biết vào đêm thứ sáu, tháng 8/1955 rằng em sẽ trở thành vợ anh…. Hãy hiểu rằng anh yêu các con, nhưng phải hành động vì những đứa trẻ trong ngôi làng của vị linh mục”.

Vợ của Morrison và hai người con gái đã tới Việt Nam vào năm 1999 và họ đã gặp nhà thơ Tố Hữu, người đã sáng tác bài thơ “Emily, con ơi” nổi tiếng.

Ba tuần sau khi ông Morrison hy sinh, bạn bè của ông đã tổ chức một lễ tưởng niệm. John Roemer, một trong những bạn đồng hành của Morrison đã lý giải về hành động tự thiêu của bạn mình: “Trong một xã hội mà mọi thứ đều bình thường khi con người thả bom xuống mục tiêu chính là đồng loại của mình…. Đối với Morrison thì như thế là không bình thường và thông điệp của anh ấy là kêu gọi hãy dừng lại”.

Ngay sau sự kiện lịch sử đó, nhà thơ Tố Hữu đã sáng tác bài thơ “Ê mi ly con ơi” nổi tiếng, để tưởng nhớ ông Morrison và tưởng niệm sự kiện này:

Ê mi ly con ơi!

Ê mi-ly, con đi cùng cha

Sau khôn lớn con thuộc đường, khỏi lạc…

- Đi đâu cha?

- Ra bờ sông Pô-tô-mác

- Xem gì cha?

Không con ơi, chỉ có Lầu ngũ giác.

Ôi con tôi, đôi mắt tròn xoe

Ôi con tôi, mái tóc vàng hoe

Đừng có hỏi cha nhiều con nhé!

Cha bế con đi, tối con về với mẹ…

Oa-sinh-tơn

Buổi hoàng hôn

Ôi những linh hồn

Còn, mất

Hãy cháy lên, cháy lên Sự thật!

Giôn-xơn!

Tội ác bay chồng chất

Cả nhân loại căm hờn

Con quỷ vàng trên mặt đất.

Mày không thể mượn nước son

Của Thiên Chúa, và màu vàng của Phật!

Mác Na-ma-ra

Mày trốn đâu? Giữa bãi tha ma

Của toà nhà năm góc

Mỗi góc, một châu.

Mày vẫn chui đầu

Trong lửa nóng

Như đà điểu rúc đầu trong cát bỏng.

Hãy nhìn đây!

Nhìn ta phút này!

Ôi không chỉ là ta với con gái nhỏ trong tay

Ta là Hôm nay

Và con ta, Ê-mi-ly ơi, con là mãi mãi!

Ta đứng dậy,

Với trái tim vĩ đại

Của trăm triệu con người

Nước Mỹ.

Để đốt sáng đến chân trời

Một ngọn đèn

Công lý.

Hỡi tất cả chúng bay, một bầy ma quỷ

Nhân danh ai?

Bay mang những B 52

Những na-pan, hơi độc

Từ toà Bạch Ốc

Từ đảo Guy-am

Đến Việt Nam

Để ám sát hoà bình và tự do dân tộc

Để đốt những nhà thương, trường học

Giết những con người chỉ biết yêu thương

Giết những trẻ em chỉ biết đi trường

Giết những đồng xanh bốn mùa hoa lá

Và giết cả những dòng sông của thơ ca nhạc hoạ!

Nhân danh ai?

Bay chôn tuổi thanh xuân của chúng ta trong những quan tài

Ôi những người con trai khoẻ đẹp

Có thể biến thiên nhiên thành điện, thép

Cho con người hạnh phúc hôm nay!

Nhân danh ai?

Bay đưa ta đến những rừng dày

Những hố chông, những đồng lầy kháng chiến

Những làng phố đã trở nên pháo đài ẩn hiện

Những ngày đêm đất chuyển trời rung…

Ôi Việt Nam, xứ sở lạ lùng

Đến em thơ cũng hoá thành những anh hùng

Đến ong dại cũng luyện thành chiến sĩ

Và hoa trái cũng biến thành vũ khí!

Hãy chết đi, chết đi

Tất cả chúng bay, một bầy ma quỷ!

Và xin nghe, nước Mỹ ta ơi!

Tiếng thương đau, tiếng căm giận đời đời

Của một người con. Của một con người thế kỷ

Ê-mi-ly, con ơi!

Trời sắp tối rồi…

Cha không bế con về được nữa!

Khi đã sáng bùng lên ngọn lửa

Đêm nay mẹ đến tìm con

Con sẽ ôm lấy mẹ mà hôn

Cho cha nhé

Và con sẽ nói giùm với mẹ:

Cha đi vui, xin mẹ đừng buồn!

Oa-sinh-tơn

Buổi hoàng hôn

Còn mất?

Đã đến phút lòng ta sáng nhất

Ta đốt thân ta

Cho ngọn lửa chói loà

Sự thật.

Tố Hữu

Bà Anna Morrison Welsh trong chuyến thăm Việt Nam nhân dịp lễ kỷ niệm ngày giải phóng miền Nam tháng 4 năm 1999.

Bà Anna Morrison Welsh trong chuyến thăm Việt Nam nhân dịp lễ kỷ niệm ngày giải phóng miền Nam tháng 4 năm 1999.

Khi hay tin về vụ tự thiêu của ông Morrison, Bác Hồ đã gởi lời chia buồn tới bà Anna Morrison Welsh, vợ của Norman Morrison. Còn đối với Emily, mãi đến năm 15 tuổi, lần đầu tiên cô mới được đọc bài thơ của nhà thơ Tố Hữu. Trong bài thơ trả lời “Gửi ngài Tố Hữu”, cô đã nói cảm giác của mình lần đầu tiên được tiếp xúc với bài thơ Tố Hữu viết về người cha:

“Khi tôi mười lăm tuổi

Một người bạn nói

Có một bài thơ

Về tôi.

Một tuần sau lá thư đến

Bằng đường bưu điện

Tôi những muốn mở nó ngay

Nhưng rồi kiềm chế mình

Tôi đã chạy ra ngoài

Ðến dưới gốc một cây thông lớn

Ngồi một mình trên cỏ

Và khi cảm thấy thật bình yên

Mới mở thư ra.

Ngay khi đọc những dòng chữ đầu tiên

Tôi đã khóc…”.

Cô bày tỏ lòng biết ơn nhà thơ Tố Hữu vì nhờ ông mà nhiều người Mỹ biết được ý nghĩa sự hy sinh của cha cô. Và trong buổi gặp mặt với nhà thơ Tố Hữu, chính Emily đã đọc bài thơ do mình sáng tác. Sau khi nghe Emily đọc bài thơ, nhà thơ Tố Hữu đã cảm động đứng dậy ôm cô vào lòng. Rồi nhà thơ Tố Hữu đọc tặng khách một bài thơ mà ông mới sáng tác nói về cái chết, sự hy sinh và dâng hiến, vừa là tâm sự riêng của tác giả (lúc này nhà thơ đã già yếu), đồng thời cũng gần gũi với câu chuyện về ngọn lửa Morrison:

“Xin tạm biệt bạn đời yêu quý nhất

Còn mấy vần thơ, một nắm tro

Thơ gửi bạn đường, tro gửi đất

Sống là cho và chết cũng là cho”.

Mặc dù hơn ba năm sau khi tiếp gia đình bà Morrison thì nhà thơ Tố Hữu mới từ trần (tháng 12/2002), nhưng bài thơ ông đọc tặng khách cũng là tác phẩm cuối cùng trong sự nghiệp sáng tác thi ca của ông.

Tờ báo The Sun tại Baltimore, Maryland đưa tin sự kiện Morrison tự thiêu

Tờ báo The Sun tại Baltimore, Maryland đưa tin sự kiện Morrison tự thiêu

Một diễu hành nhỏ ở Philadelphia, Pennsylvania (26/3/1966). Người diễu hành trưng biểu ngữ đòi quyền tự quyết cho Việt Nam và rút quân đội về.

Một diễu hành nhỏ ở Philadelphia, Pennsylvania (26/3/1966). Người diễu hành trưng biểu ngữ đòi quyền tự quyết cho Việt Nam và rút quân đội về.

Ngày 15/11/1969, bốn năm sau đó, một cuộc tuần hành khoảng 250 ngàn người nổ ra ở đại lộ số 5 trung tâm New York, chỉ cách Quảng trường Thời đại (Times Square) vài dãy phố. Cùng lúc là hàng loạt các cuộc xuống đường ở nhiều thành phố lớn tại cả bờ Đông và bờ Tây nước Mỹ.

Cuộc biểu tình này vượt tầm kiểm soát của chính quyền Mỹ. Các quan chức Mỹ hỏi nhau: chuyện gì đang xảy ra và tại sao? Trước đó, người Mỹ chỉ nghe về cuộc chiến tranh Việt Nam qua loa tuyên truyền của chính quyền Mỹ. Nhưng cho đến cuộc tấn công mùa xuân 1968, báo chí Mỹ, đặc biệt là truyền hình Mỹ đã truyền tải hình ảnh cuộc chiến Việt Nam đến tận từng gia đình người Mỹ. Người Mỹ nhìn thấy tận mắt binh lính họ châm lửa đốt nhà dân thường, bắn chết người vô tội, những em bé bị bom napalm bốc cháy, tòa đại sứ Mỹ bị đánh úp, binh lính Mỹ kéo lê xác đồng đội….

Người Mỹ châm biếm "con rối Sài Gòn" trong một cuộc xuống đường diễu hành phản chiến.

Người Mỹ châm biếm "con rối Sài Gòn" trong một cuộc xuống đường diễu hành phản chiến.

Phong trào phản chiến bước sang một bước ngoặt mới khi cuộc biểu tình ôn hòa của sinh viên Đại học Tiểu bang Kent (bang Ohio) ngày 4/5/1970 đã bị Vệ binh quốc gia Mỹ xả súng vào. Kết quả là 4 sinh viên bị bắn chết và 9 người khác bị thương.

Vụ xả súng Đại học Tiểu bang Kent đã gây sốc toàn nước Mỹ. Hàng trăm thành phố nổi dậy, có thể nói cả một thế hệ thanh niên và trung niên, đặc biệt cộng đồng người gốc Phi và người gốc Mỹ Latinh, đã tham gia phong trào phản chiến. Đó thật sự là cuộc nội chiến ngay trong lòng nước Mỹ. Có thể nói cuộc chiến đấu ngoan cường của dân tộc Việt Nam đã làm rung động lương tri của nhân dân thế giới và nhất là nhân dân Mỹ, do đó dư luận thế giới thời đó đã gọi Việt Nam là “lương tâm của thời đại”.

Biểu tình phản đối chiến tranh ở thủ đô Washington, D.C. (1967).

Biểu tình phản đối chiến tranh ở thủ đô Washington, D.C. (1967).

Cảnh sát trấn áp những người biểu tình giương cờ Mặt Trận ủng hộ Việt Nam ở London, Anh (1968).

Cảnh sát trấn áp những người biểu tình giương cờ Mặt Trận ủng hộ Việt Nam ở London, Anh (1968).

Người biểu tình phản đối chiến tranh Việt Nam tuần hành xuống đường 81 ở Thành phố New York ngày 27/4 năm 1968.

Người biểu tình phản đối chiến tranh Việt Nam tuần hành xuống đường 81 ở Thành phố New York ngày 27/4 năm 1968.

2. Biểu tượng Martin Luther King

Ngày 4/4/1967, giữa lúc bom đạn và chất độc hóa học của Mỹ trút xuống Việt Nam, một người Mỹ gốc Phi tuyên bố trước công chúng ở New York: “Tôi nói với tư cách một người anh em của những người Việt Nam nghèo khổ” và kêu gọi: “Để chuộc lại những tội lỗi và sai lầm của chúng ta ở Việt Nam, chúng ta phải chủ động chấm dứt cuộc chiến tranh bi thảm này”. Người đó là mục sư Martin Luther King, Jr., là một nhà tranh đấu cho dân quyền và nhân quyền ở Mỹ. Ông không những nổi danh ở Mỹ mà còn trên thế giới. Ông là một thủ lĩnh nổi tiếng của phong trào đấu tranh đòi quyền công dân, bình đẳng chủng tộc cho người da màu, da đen ở Mỹ.

Ngoài ra, ông còn là người kiên quyết phản đối cuộc chiến tại Việt Nam và hoạt động nhiệt tình cho nền hòa bình của Việt Nam. Các trường học công lập của Mỹ ngày nay chỉ chủ yếu dạy về nỗ lực đòi quyền bình đẳng cho người da màu, da đen của Martin Luther King, Jr., tránh né quan điểm của ông về Chiến tranh Việt Nam và các hoạt động phản chiến của ông, nhiều trường hoàn toàn lờ đi không nhắc đến những chuyện này.

Đúng một năm sau, ngày 4/4/1968, ông đã hy sinh trong cuộc đấu tranh đó. Ông bị ám sát ở Memphis, Tennessee và đến nay “vẫn chưa tìm ra được hung thủ chủ mưu”, “chưa thể điều tra được”. Hồ sơ FBI về vụ án này đã bị xếp xó từ rất lâu. Từ đó về sau Martin Luther King, Jr. đã trở nên một biểu tượng nổi tiếng trong lòng dân Mỹ, nhất là người Mỹ da màu, người Mỹ gốc Phi, đến độ sau này trong các ngày lễ chính thức hàng năm ở Mỹ có một “ngày Martin Luther King”.

Một trong những thanh niên da màu ở Mỹ bị đem tới chiến trường Việt Nam

Một trong những thanh niên da màu ở Mỹ bị đem tới chiến trường Việt Nam

Người da đen biểu tình chống Chiến tranh Việt Nam, với biểu ngữ: "Chưa có người Việt Nam nào gọi chúng tôi là 'mọi' (như cách gọi từ nhiều người da trắng ở Mỹ)."

Người da đen biểu tình chống Chiến tranh Việt Nam, với biểu ngữ: "Chưa có người Việt Nam nào gọi chúng tôi là 'mọi' (như cách gọi từ nhiều người da trắng ở Mỹ)."

Từ giữa năm 1965, Martin Luther King, Jr. đã yêu cầu: “Cuộc chiến tranh ở Việt Nam phải được chấm dứt. Phải giải quyết nó bằng thương lượng”. Ông phản đối Chiến tranh Việt Nam trước hết vì nó trực tiếp gây hại cho cuộc sống của những người Mỹ gốc Phi. Để có tiền cho chi phí chiến tranh, chính phủ Hoa Kỳ đã cắt giảm nhiều chương trình an sinh xã hội cho dân nghèo, đa số là người da màu. Ông và các cộng sự tính toán ra và cho biết chính phủ Mỹ đã tiêu tốn 322.000 USD để giết 1 người du kích ở Việt Nam, nhưng chỉ chi 53 USD cho 1 đầu người trong cuộc chiến chống nghèo đói ở Mỹ.

Nạn phân biệt chủng tộc, kỳ thị màu da còn thể hiện trong chiến tranh. Người da đen chỉ có 13% dân số Mỹ, nhưng chiếm đến 28% số lính Mỹ bị đẩy ra chiến trường. Chỉ có 2% sĩ quan là người da đen. Và tỷ lệ lính da đen chết trận tại Việt Nam luôn cao hơn người da trắng một cách bất bình thường.

Martin Luther King, Jr. đã vạch trần chiêu bài “bảo vệ tự do” giả hiệu mà chính phủ Mỹ thường dùng làm danh nghĩa khai chiến và cưỡng bách thanh niên sang Việt Nam. Ông nói: “Thanh niên da đen bị gửi đi xa 8.000 dặm để bảo vệ tự do cho Đông Nam Á, cái tự do mà họ không tìm thấy ở tây nam Georgia hay ở đông Harlem”.

Mục sư Martin Luther King, Jr.

Mục sư Martin Luther King, Jr.

Còn một lý do khác, rộng lớn hơn và cao thượng hơn, thôi thúc ông phản đối cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam đã được ông trình bày trong bài nói chuyện tại New York ngày 4/4/1967. Ông rà soát lại chính sách của Mỹ đối với Việt Nam trong 2 thập niên của 4 đời tổng thống: Truman, Eisenhower, Kennedy và Johnson và ông nhận ra rằng trong khi chính phủ Mỹ luôn tự nhận là “lãnh đạo của thế giới tự do” thì chính Mỹ đã đứng về phía thực dân Pháp để chống lại khát vọng tự do của dân tộc Việt Nam. Sau đây là một vài trích đoạn phát biểu của ông trong bài nói chuyện ngày 4/4/1967:

Năm 1945, người dân Việt Nam tuyên bố nền độc lập của mình…. Họ được Hồ Chí Minh lãnh đạo. Dù họ đã trích dẫn bản Tuyên ngôn độc lập của Mỹ vào bản Tuyên ngôn độc lập của họ, chúng ta vẫn từ chối công nhận họ. Thay vào đó, chúng ta quyết định ủng hộ Pháp trong việc tái chiếm thuộc địa cũ…. Với quyết định bi thảm đó, chúng ta đã bác bỏ một chính phủ cách mạng đang đi tìm quyền tự quyết, một chính phủ được thành lập bởi chính những lực lượng bản xứ, trong đó bao gồm một số người cộng sản….

Trong 9 năm sau đó, chúng ta khước từ quyền độc lập của người dân Việt Nam. Trong suốt 9 năm đó, chúng ta ủng hộ mạnh mẽ Pháp trong nỗ lực đặt lại ách thực dân lên nước Việt Nam. Trước khi chiến tranh kết thúc, chúng ta trang trải 80% chi phí chiến tranh cho Pháp.

Ngay trước khi thua ở Điện Biên Phủ, Pháp đã bắt đầu tuyệt vọng về hành động liều lĩnh của họ, nhưng chúng ta thì không. Chúng ta khuyến khích họ bằng cách viện trợ một khối lượng khổng lồ tài chính và tiếp liệu quân sự để họ tiếp tục cuộc chiến ngay cả khi họ đã mất hết ý chí. Chẳng bao lâu, chúng ta hầu như trả toàn bộ chi phí cho ý đồ tái chiếm thuộc địa này.

Pháp bị người dân Việt Nam đánh bại, phải rút quân về nước. Nhưng Mỹ lại nhảy vào miền Nam, ngăn cản cuộc tổng tuyển cử mà chắc chắn sẽ đưa Hồ Chí Minh lên nắm quyền trong một nước Việt Nam thống nhất. Để giữ miền Nam trong quỹ đạo của Mỹ, chúng ta đã chọn thủ tướng Diệm, một trong những nhà độc tài xấu xa nhất thời hiện đại. Người dân miền Nam phải sống 9 năm dưới sự cai trị tàn bạo của Diệm. Khi Diệm bị lật đổ, lẽ ra họ có thể sống hạnh phúc, nhưng rồi một loạt chế độ độc tài quân phiệt dường như chẳng có gì thay đổi.

Trước phong trào nổi dậy của người dân miền Nam, chúng ta gửi thêm quân lính sang để ủng hộ những chính phủ thối nát một cách kinh dị, lạc lõng, không được dân chúng ủng hộ…. Người dân miền Nam chết dần chết mòn dưới bom đạn của chúng ta và xem chúng ta như kẻ thù đích thực của họ…. Chúng ta buộc họ phải rời khỏi xóm làng của cha ông họ để bị dồn vào những trại tập trung…. Chúng ta rải chất độc xuống các nguồn nước của họ, tàn phá cả triệu mẫu Anh mùa màng của họ…. Chúng ta thử nghiệm những vũ khí mới nhất của chúng ta lên trên họ, giống như bọn Đức Quốc Xã thử nghiệm những loại thuốc mới và những cách tra tấn mới trong các trại tập trung của chúng ở châu Âu…. Chúng ta tàn phá 2 định chế thiết thân nhất của họ là gia đình và xóm làng….

Ở miền Bắc, bom của chúng ta đang liên tục ném xuống đất đai, còn mìn của chúng ta đang gây nguy hiểm cho các đường sông, đường biển…. Cho đến nay, chúng ta có thể đã giết chết một triệu người Việt Nam, phần lớn là trẻ em….

Chúng ta phải thừa nhận rằng chúng ta đã sai lầm ngay từ đầu cuộc phiêu lưu của chúng ta ở Việt Nam, rằng chúng ta đã gây tổn hại cho cuộc sống của người dân Việt Nam….

Bằng cách này hay bằng cách khác, sự điên rồ này phải dừng lại. Chúng ta phải chấm dứt ngay bây giờ…. Chúng ta đã chủ động gây ra cuộc chiến tranh này, chúng ta phải chủ động chấm dứt nó…. Để chuộc lại những tội lỗi và sai lầm của chúng ta ở Việt Nam, chúng ta phải chủ động chấm dứt cuộc chiến tranh bi thảm này.

Sau khi chiến tranh kết thúc, chúng ta phải bồi thường cho những thiệt hại mà chúng ta đã gây ra. Đường lối của Mỹ ở Việt Nam là đáng thẹn và phi nghĩa nên chúng ta phải nói…. Chúng ta không thể im lặng…. Chúng ta phải tiếp tục lên tiếng nếu quốc gia của chúng ta cứ khăng khăng đi theo con đường sai lầm ở Việt Nam. Chúng ta phải sẵn sàng gắn hành động với lời nói bằng cách tìm ra mọi cách phản đối…. Chúng ta phải chuyển từ sự do dự trong quá khứ sang hành động. Chúng ta phải tìm ra những cách nói mới cho hoà bình ở Việt Nam cũng như cho công lý trong thế giới đang phát triển…. Phải làm cho thanh niên Mỹ thấy rõ vai trò của Hoa Kỳ trong việc gây ra chiến tranh ở Việt Nam và yêu cầu họ chọn cách từ chối nhập ngũ vì lý do tín ngưỡng (conscientious objection).”

Ông Martin Luther King, Jr. đưa ra các đề nghị cụ thể:

  • Chấm dứt mọi cuộc ném bom xuống miền Bắc và miền Nam Việt Nam.
  • Đơn phương tuyên bố ngưng bắn với hy vọng hành động đó sẽ tạo ra một bầu không khí thuận lợi cho thương thuyết.
  • Có ngay những bước đi ngay lập tức để tránh những cuộc chiến tranh khác ở Đông Nam Á bằng cách cắt bỏ việc xây dựng quân sự của chúng ta ở Thái Lan và sự can thiệp của chúng ta ở Lào.
  • Thừa nhận một cách thực tế rằng Mặt trận Dân tộc Giải phóng được sự ủng hộ to lớn ở miền Nam Việt Nam và vì vậy phải đóng một vai trò trong các cuộc thương thuyết và trong chính phủ tương lai ở Việt Nam.
  • Ấn định ngày đưa toàn bộ lính nước ngoài ra khỏi Việt Nam phù hợp với hiệp định Genève 1954.

Bài phát biểu của Martin Luther King, Jr. đã làm tỉnh ngộ rất nhiều người Mỹ, vốn lúc đó vẫn còn biết rất ít về quá trình xâm lược của Mỹ vào Việt Nam. Ông trở thành một trong những nhân vật đứng đầu sáng giá nhất của phong trào chống chiến tranh ở Hoa Kỳ. Uy tín của ông ngày càng tăng. Ông đã kêu gọi được hơn 10 vạn người xuống đường biểu tình ôn hòa phản đối chiến tranh ở New York ngày 15/4/1967, bất chấp bị những chiếc dùi cui giáng xuống, bị bắt giữ, hành hung, trấn áp.

Martin Luther King, Jr. tại trường đại học Minnesota, kêu gọi sinh viên Mỹ phản đối Chiến tranh Việt Nam, chống bắt lính, chống nhập ngũ.

Martin Luther King, Jr. tại trường đại học Minnesota, kêu gọi sinh viên Mỹ phản đối Chiến tranh Việt Nam, chống bắt lính, chống nhập ngũ.

Để tạo cớ đàn áp những người phản đối chiến tranh, chính phủ Mỹ cho CIA tạo dựng những hồ sơ giả và tung tin “phong trào đòi hòa bình được khởi động từ Hà Nội”, những người chống đối chiến tranh, chống quân dịch là “những người cộng sản hành động theo lệnh của các chính phủ nước ngoài”, với những ám chỉ rằng đó là Việt Nam và Liên Xô.

FBI cho người nghe lén điện thoại của ông, đặt máy ghi âm trong phòng khách sạn của ông. Cho tay sai khủng bố tinh thần ông bằng thư rác hay những cú điện thoại nặc danh chửi bới thô tục, quấy rối, dọa bắt cóc, thậm chí cả dọa giết. Nhà của ông ở Montgomery bị đặt bom. Cảnh sát địa phương “không điều tra ra là ai làm”. Ông thừa biết những đòn bẩn nhưng vẫn không chùn bước và tiếp tục hoạt động hăng say trong phong trào phản chiến.

Ngày 28/3/1968, ông tổ chức một cuộc biểu tình đòi hoà bình, yêu cầu chính phủ Mỹ rút quân ở thành phố Memphis, bang Tennessee. Chính quyền phái hơn 4 ngàn Vệ binh quốc gia đến trấn áp, xua đuổi, đánh đập, bạo hành, bắt phải giải tán và bắt giữ 276 người. Ba ngày sau, 31/3/1968, quyết không khuất phục, ông có mặt ở thủ đô Washington tiếp tục nói chuyện tại Nhà thờ Quốc gia.

Vào cuối năm ấy sẽ có cuộc bầu cử tổng thống mới ở Mỹ. Chiến tranh Việt Nam đang là đề tài mang tính thời sự nóng bỏng trong suốt thời gian vận động tranh cử. Những ngôn luận, chính kiến, quan điểm phản đối chiến tranh, phản biện chính sách quân sự, đối ngoại của chính phủ Mỹ có thể khiến Johnson mất đi nhiều phiếu. Vì vậy Martin Luther King, Jr. càng nhận được nhiều thơ từ, cú phone nặc danh dọa giết, dọa ám sát. Trong bài phát biểu ngày 3/4/1968, ông nói trước đám đông: “Cũng như bất kỳ ai, tôi cũng muốn sống thọ. Sống thọ là điều quan trọng, nhưng hiện nay tôi không quan tâm đến điều đó nữa”.

Ngay ngày hôm sau, 4/4/1968, buổi chiều, khi ông đang đứng ở lầu 2 của khách sạn Lorraine ở Memphis, ông bị bắn. Hơn một tiếng đồng hồ sau, ông trút hơi thở cuối cùng tại bệnh viện Saint Joseph.

Hay tin ông từ trần, nhân dân Hoa Kỳ và những người yêu hòa bình trên thế giới vô cùng thương tiếc. Ngày 9/4/1968, hơn 30 vạn người đau buồn tiễn đưa linh cữu của ông ra nghĩa trang. Kẻ chủ mưu cho đến nay chưa bao giờ được đưa ra ánh sáng. Sự kiện này trở thành một trong nhiều sự kiện ám sát gây tiếng vang ở Mỹ mà đến nay vẫn “không tìm ra chủ mưu”.

Tổng thống Lyndon B. Johnson đã bất lực trong việc thuyết phục, ép buộc Martin Luther King, Jr. từ bỏ cuộc đấu tranh bất bạo động của ông.

Tổng thống Lyndon B. Johnson đã bất lực trong việc thuyết phục, ép buộc Martin Luther King, Jr. từ bỏ cuộc đấu tranh bất bạo động của ông.

Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ và quân đội xâm lược Mỹ, nhân dân thế giới đã đứng về phía nhân dân Việt Nam, bao gồm cả nhân dân Mỹ, chống lại sự gây chiến của Mỹ và các tội ác họ gây ra ở Việt Nam, trong đó có mục sư Martin Luther King, Jr.. Ngày nay ở Việt Nam, có một con đường khang trang ở quận 7 TPHCM mang tên Martin Luther King, Jr..

Bài nói chuyện “Tại sao tôi phản đối cuộc chiến tranh ở Việt Nam” của Martin Luther King, Jr., nói về cuộc đấu tranh chống lại “Tam ác” (phân biệt chủng tộc, bóc lột kinh tế, phiêu lưu quân sự). Bài nói chuyện diễn ra ở Nhà thờ Ebenezer Baptist ngày 30 tháng 4 năm 1967.

oOo

Norman Morrison và Martin Luther King, Jr. đã trở thành một trong các biểu tượng cao đẹp nhất tiêu biểu cho sự ủng hộ to lớn của người dân Mỹ và bạn bè thế giới, đã góp phần làm nên thắng lợi cho công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Việt Nam.

Đó là một trong những nguyên nhân vì sao trong cuộc thảo luận tại phiên họp thứ 22 của Liên Hiệp Quốc năm 1967 chỉ có các đại diện của 7 quốc gia ủng hộ chính sách của Mỹ tại Việt Nam. Trong khi đại diện của 44 quốc gia đã phản đối gay gắt chính sách của Mỹ, trong đó có 5 đồng minh của Mỹ trong khối NATO.

Phong trào chống chiến tranh Việt Nam ở Mỹ đặc biệt bùng nổ lan rộng sau tác động to lớn của chiến dịch tổng tấn công và nổi dậy Mậu Thân 1968. Cuộc tổng tiến công và khởi nghĩa này đã biến hậu phương nước Mỹ trở thành một mớ hỗn loạn rối ren.

Phong trào phản chiến sau sự kiện Tết Mậu Thân đã bùng nổ thành một cao trào phản chiến lịch sử, gần như biến thành một cuộc nội chiến đẫm máu. Máu đã đổ khắp nơi trong lòng nước Mỹ. Dân Mỹ kéo xuống đường biểu tình để rồi bị đàn áp, bắt bớ, đánh đập, bắn giết.

Từ đó, quân đội Mỹ ngày càng rệu rã, xuống tinh thần, suy thoái đấu chí và bắt đầu gia tăng những hiện tượng nghiện ma túy, hút chích, sĩ quan bắn chết lính, lính bắn chết sĩ quan rồi đào ngũ bỏ trốn.

Sự kiện Mậu Thân 1968 đã lột trần sự thật tình hình chiến cuộc và tình trạng quân lính Mỹ ở miền Nam Việt Nam, làm cho tất cả người Mỹ, từ công chúng đến quan chức đến quân đội ở Mỹ đều nhìn nhận ra điều mà lâu nay họ không đủ dũng khí để chấp nhận: Trên 55 vạn quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam, báo cáo bao nhiêu chiến thắng, tốn bao nhiêu nguồn lực, nhân mạng, tiền của đổ vào chiến trường miền Nam Việt Nam, rốt cuộc không giữ nổi cả Tòa đại sứ. Một cảm giác tuyệt vọng, chán chường, cảm thấy tất cả đều vô ích, công cốc hết. Người dân Mỹ thì cảm thấy bị phản bội bởi các tuyên truyền tâm lý chiến dối trá. Nhiều quan chức Mỹ cảm thấy bị lừa dối bởi những báo cáo lạc quan giả tạo.

Khoảng 50.000 người dân thủ đô Hoa Kỳ biểu tình phản chiến tại Washington DC.

Khoảng 50.000 người dân thủ đô Hoa Kỳ biểu tình phản chiến tại Washington DC.

Ngày 8/2/1965, người dân thủ đô Moskva (Liên Xô) hội họp ủng hộ nhân dân Việt Nam

Ngày 8/2/1965, người dân thủ đô Moskva (Liên Xô) hội họp ủng hộ nhân dân Việt Nam

Jane Fonda (có biệt danh Hanoi Jane ), nữ tài tử nổi tiếng của Hollywood

Jane Fonda (có biệt danh Hanoi Jane), nữ tài tử nổi tiếng của Hollywood

Jane Fonda (có biệt danh Hanoi Jane), nữ tài tử nổi tiếng của Hollywood, là một trong những người đi đầu trong giới văn nghệ sĩ Mỹ phản kháng Chiến tranh Việt Nam. Bà từng có mặt tại Hà Nội để chia sẻ nỗi đau với người dân thủ đô trong giai đoạn Không quân Hoa Kỳ đang ném bom dữ dội vào thành phố, vào nhà dân. Trong khi Hoa Kỳ đang ném bom, Jane Fonda đã một mình đến miền Bắc và lưu trú tại khách sạn Thống Nhất, Hà Nội (nay là khách sạn Sofitel Legend Metropole). Trong hai tuần ở VN, bà đã đi thăm bệnh viện Bạch Mai, khu Trương Định, nhà trẻ 20/10, thăm lính phòng không….

Daniel Ellsberg ra tòa vì tiết lộ hồ sơ Lầu Năm Góc về Chiến tranh Việt Nam

Daniel Ellsberg ra tòa vì tiết lộ hồ sơ Lầu Năm Góc về Chiến tranh Việt Nam

Daniel Ellsberg ra tòa vì tiết lộ hồ sơ Lầu Năm Góc về Chiến tranh Việt Nam cho Thời báo New York, sau đó được tha bổng dưới áp lực của dư luận trong nước và quốc tế…. Năm 1971, ông đã gây chấn động nước Mỹ khi bạch hóa bản sao chụp 7 ngàn trang hồ sơ Lầu Năm Góc về kế hoạch leo thang chiến tranh Việt Nam, tạo ra một làn sóng phản đối chiến tranh mạnh mẽ chưa từng có trong lịch sử Hoa Kỳ. Năm 2002, ông hoàn thành quyển hồi ký Secrets: A Memoir of Vietnam and the Pentagon papers (Những bí mật về chiến tranh Việt Nam – Hồi ức về Việt Nam và hồ sơ Lầu Năm Góc), từng là best-seller năm 2002. Ngay từ khi phát hành, cuốn hồi ký của Ellsberg đã gây xôn xao dư luận. Cuốn sách kể lại cuộc hành trình đi tìm sự thật của chính tác giả và những âm mưu của tổng thống Nixon cùng Lầu Năm Góc đối với cuộc chiến tại Việt Nam. Trong tác phẩm, Ellsberg đã mô tả lại quá trình nhận thức của ông ta về Chiến tranh Việt Nam như sau: “Thoạt đầu tôi nghĩ đó chỉ là một vấn đề, tiếp đến là một sự bế tắc, nhưng rồi sau đó là một thảm họa về đạo đức và chính trị và cuối cùng trở thành một tội ác”. Daniel Ellsberg từng nhận bằng tiến sĩ Kinh tế Đại học Harvard năm 1962. Sau đó, ông làm việc cho cố vấn đặc biệt của Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng và Đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn. Năm 1967, Ellsberg trở về Mỹ và được phân công làm việc trong nhóm sĩ quan, chuyên viên Lầu Năm Góc chuyên nghiên cứu, phân tích chiến lược tối mật về hoạch định chính sách đối với Việt Nam của Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara. Tháng 3/2006, Ellsberg trở lại thăm Việt Nam và được trao kỷ niệm chương “Vì hòa bình hữu nghị giữa các dân tộc”, tôn vinh những cống hiến của ông dành cho Việt Nam.

Các quân nhân Chiến tranh Việt Nam của Mỹ biểu tình phản đối cuộc chiến, với biểu ngữ: "Chúng tôi sẽ không đánh thêm một cuộc chiến của người giàu."

Các quân nhân Chiến tranh Việt Nam của Mỹ biểu tình phản đối cuộc chiến, với biểu ngữ: "Chúng tôi sẽ không đánh thêm một cuộc chiến của người giàu."

Cảnh sát dùng dùi cui trấn áp nhiều cuộc biểu tình phản đối chiến tranh.

Cảnh sát dùng dùi cui trấn áp nhiều cuộc biểu tình phản đối chiến tranh.

Hình bên trái: Cô du kích Nguyễn Thị Kim Lai áp giải người lính Mỹ William Robinson. Hình bên phải: Sự hội ngộ của hai người khi hòa bình lập lại.

Hình bên trái: Cô du kích Nguyễn Thị Kim Lai áp giải người lính Mỹ William Robinson. Hình bên phải: Sự hội ngộ của hai người khi hòa bình lập lại.

Xem tiếpToàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt – Mỹ 1954-1975 (Kỳ cuối)

(Blogger Thiếu Long)

Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về banbientap@nguyentandung.org
Theo dõi NGUYENTANDUNG.ORG qua FB, G+:
Thích và chia sẻ bài này trên:
Chia sẻ facebook
Ý kiến bạn đọc