Chủ đề

(Xã hội) - BBT trân trọng gửi đến bạn đọc bài viết của Blogger Thiếu Long Texas: Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt – Mỹ 1954-1975 nhân kỷ niệm 38 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Kỳ 1: Bản chất một cuộc xâm lược không thể biện minh

Thấm thoát đã 38 năm trôi qua, trên đất Việt ngày nay đã không còn khói lửa chiến chinh. Nhưng trong tâm khảm của nhiều người Việt Nam, nhất là những người được sống, được chứng kiến, được hòa mình vào cuộc chiến bi hùng của dân tộc trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, vẫn vang vọng bản hùng ca đầy cảm khái.

Cách đây 38 năm, người Việt Nam đã hoàn thành một trong những kỳ tích chiến công hiển hách nhất trong lịch sử Việt Nam và thế giới, khiến cho dư âm cuộc chiến này vẫn vang vọng khắp năm châu trong thế giới ngày nay.

Vào những ngày cuối tháng tư 38 năm về trước, những người Mỹ cuối cùng trên đất Việt buộc phải chấm dứt hoàn toàn mọi hình thức xâm lược và rời khỏi lãnh thổ Việt Nam. Sự thương vong và thiệt hại nặng nề của Mỹ đã không giúp cho ý đồ nào của họ đạt được. Họ đến xứ Việt xa xôi cách nước Mỹ nửa vòng trái đất, với gần 60 vạn binh hùng tướng mạnh, nhưng họ đã phải ra đi với hai bàn tay trắng và bỏ lại sau lưng gần 6 vạn xác binh tướng viễn chinh, trong đó có 37 người cấp tướng. Chưa có một cuộc chiến nào trong quân sử Hoa Kỳ mà số binh lính và các tướng chết trận nhiều như vậy. Đến nỗi sau này chính phủ Mỹ đã cho xây Đài tưởng niệm Chiến tranh Việt Nam ở thủ đô Washington DC, để tưởng niệm những quân nhân Mỹ đã tử trận ở Việt Nam.

Hình ảnh cựu binh Mỹ bên đài tưởng niệm chiến tranh Việt Nam được treo ở sân bay Washington DC

Hình ảnh cựu binh Mỹ bên đài tưởng niệm chiến tranh Việt Nam được treo ở sân bay Washington DC

Ba chiến lược chiến tranh (chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ, Việt Nam hóa chiến tranh), 2 chiến lược tác chiến (Tìm và Diệt của tướng William Westmoreland và Quét và Giữ của tướng Creighton Abrams), chiến thuật Trực thăng vận, Thiết xa vận của Mỹ đều bị phá sản trên chiến trường Việt Nam.

Trong quá trình xâm lược Việt Nam, với ý chí quyết thắng bằng mọi giá, Mỹ đã sáng tạo, nghiên cứu nhiều công nghệ mới, đặc chế nhiều vũ khí, công cụ chiến tranh mới. Họ đã nghiên cứu, thử nghiệm và áp dụng 3 loại hình chiến tranh công nghệ cao: Chiến tranh điện tử (electronical warfare), chiến tranh hóa học (chemical warfare) và chiến tranh khí tượng (weather warfare). Trong đó, chiến tranh điện tử và chiến tranh khí tượng là lần đầu tiên quân đội Mỹ áp dụng trong chiến sử Hoa Kỳ. Song tất cả nỗ lực đó đều thất bại trên chiến trường Việt Nam.

Bản chất cuộc chiến Mỹ – Việt 1954-1975

Đó là cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Mỹ và là cuộc chiến tranh chống quân xâm lược Mỹ để bảo vệ đất nước của dân tộc Việt Nam. Việt Nam đã giành được độc lập từ năm 1945, nên cuộc chiến tranh này (cũng như cuộc chiến chống Pháp từ năm 1945 đến 1954) không phải là cuộc chiến giành độc lập mà là cuộc chiến giữ gìn độc lập và bảo vệ Tổ quốc, chống sự xâm lược và chiếm đóng của Mỹ ở miền Nam Việt Nam, giành lại hoàn toàn độc lập chủ quyền dân tộc, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.

Không phải chỉ có người Việt Nam mới có nhận định này, mà đây cũng là nhận xét chung của đông đảo trí thức, học giả, sử gia, nhà nghiên cứu, chính trị gia, nhà quân sự trên thế giới, bao gồm cả người Mỹ, trong đó có cả những cựu quân nhân chiến tranh Việt Nam của Mỹ và cựu quân nhân quân đội Sài Gòn.

Nguyên nhân có cuộc chiến từ năm 1954 đến 1975 là do Mỹ đã xâm lược và chiếm đóng nửa nước Việt Nam. Bản chất cuộc chiến này là một cuộc chiến tranh tự vệ, đánh đuổi giặc xâm lược từ bên ngoài, giữa quân dân Việt Nam ở cả ba miền Bắc-Trung-Nam và gần 60 vạn quân viễn chinh từ Hoa Kỳ cùng các chư hầu, ngụy quân của họ.

Ngụy quyền và ngụy quân Sài Gòn đầu tiên do giặc xâm lược thực dân Pháp lập ra trong cuộc chiến cướp lại thuộc địa của họ, sau đó được Mỹ nắm lấy. Ngụy quyền Sài Gòn không có thực quyền, là những bù nhìn, con rối của chính phủ Pháp – Mỹ. Các ngụy quyền cờ ba sọc ở miền Nam dưới bàn tay 2 mẫu quốc chưa bao giờ hội đủ các nhân tố, đặc tính, thực lực, thực quyền, giá trị, căn cước của một quốc gia đúng nghĩa, của một đất nước có đầy đủ chủ quyền, có đủ sự độc lập về chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa.

Cả bộ máy ngụy quyền được giặc xâm lược tạo dựng một cách bất hợp pháp, vi phạm nghiêm trọng luật pháp Việt Nam (theo Hiến pháp 1946 và 1959), và vi phạm tất cả các hiệp định pháp lý mà các bên liên quan đã ký (theo hiệp định Genève 1954 và hiệp định Paris 1973). Pháp – Mỹ đã dựng và nuôi những “quốc gia” lên trên quốc gia Việt Nam đã tồn tại mấy ngàn năm và đã phục hưng nền độc lập tự chủ từ năm 1945. Họ đã dựng và nuôi những “nhà nước” lên trên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thành lập từ 1945. Họ tạo ra những “Quốc hội” lên trên Quốc hội đã tổ chức bầu cử toàn dân toàn quốc vào năm 1946.

Bản chất của cuộc chiến tranh này cũng như bản chất của các bên không liên quan đến kết quả thắng thua. Trong lịch sử Việt Nam và thế giới có nhiều kẻ thắng không thành chính nghĩa, người thua nhưng không ai coi là giặc, trái lại được coi là anh hùng. Như người ta hay nói: “Không thể lấy thành – bại luận anh hùng”. Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, ngay trong lúc cuộc chiến đang diễn ra, chưa có kết quả thắng – bại, thì nhân dân cả nước, trước hết là người dân miền Nam đã xem các chính quyền bù nhìn của giặc là những ngụy quyền, và gọi họ là “bọn ngụy”.

Nhiều trí thức, học giả, nhà nghiên cứu trên thế giới, kể cả nhiều người nằm trong chính phủ Mỹ và ngụy quyền của Mỹ, những người thua trận, những người khách quan trung lập bên ngoài không liên quan đến cuộc chiến, những người không ở trong chính phủ Việt Nam, Quân đội Nhân dân Việt Nam, không thuộc Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban tuyên giáo, hay thuộc các nhóm tác giả biên soạn sách giáo khoa Việt Nam, hay thuộc các nhóm sử gia trong ngành sử học Việt Nam, cũng có quan điểm tương đồng với quan điểm chính thức của nhà nước Việt Nam và quan điểm chính thống của đại khối dân tộc Việt Nam.

I. Tính bất hợp pháp của cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam

Đã là chiến tranh xâm lược, nước này gây hấn trước, đem quân tấn công, tiến đánh nước kia vì các mục đích và lợi ích của họ thì ít nhiều gì nó đã có tính chất bất hợp pháp. Nhưng tính chất bất hợp pháp của cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam thì lại ấn tượng và dễ thấy hơn nhiều so với các cuộc chiến phức tạp khác.

Cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam đã vi phạm luật pháp Việt Nam, luật pháp Hoa Kỳ, và luật pháp quốc tế. Mỹ trực tiếp đổ quân vào Việt Nam và tấn công những vùng giải phóng của miền Nam, xâm phạm không phận, hải phận và dội bom phá hoại miền Bắc. Đến năm 1969, số lượng thực binh Mỹ ở Việt Nam đã lên đến hơn 55 vạn quân. Và sự đổ quân xâm nhập, trực tiếp tiến hành chiến tranh này là một hành động tự tiện mà không theo bất kỳ một hiệp định ký kết, một văn kiện chính thức, một điều luật quốc tế, hay bất kỳ cơ sở pháp lý chính danh nào.

II. Luật pháp Việt Nam

Nói đến tính chính danh và hợp pháp ở Việt Nam thiết nghĩ cần nhìn lại lịch sử Việt Nam. Lực lượng cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Ái Quốc và những người cộng sản Việt Nam đã đấu tranh giành độc lập trong thời Pháp thuộc, đấu tranh ở cả trong và ngoài nước. Năm 1930, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã thống nhất các đảng phái cộng sản ở Việt Nam lại thành 1 Đảng tiền phong. Sau đó lãnh tụ Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập các Mặt Trận đoàn kết khác nhau để chống Pháp – Nhật giành độc lập, trong đó nổi tiếng nhất là Mặt trận Việt Minh.

Năm 1944, Đảng Cộng sản Việt Nam, lãnh tụ Hồ Chí Minh và đại tướng Võ Nguyên Giáp đã thống nhất các tổ chức vũ trang cách mạng như Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (lực lượng nòng cốt, đấu tranh chính trị có vũ trang), quân du kích Nam Kỳ, Đội du kích Bắc Sơn, Đội du kích Ba Tơ, Cứu quốc quân v.v. lại thành một quân đội chính thức của quốc gia, là tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam sau này.

Trong thời kỳ này, lực lượng cách mạng Việt Nam đã đi đầu và lãnh đạo nhân dân Việt Nam chống Pháp – Nhật trong cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh (1930-1931), phong trào dân chủ Đông Dương (1936-1939), khởi nghĩa lớn ở Nam Kỳ (1940), khởi nghĩa Bắc Sơn (1940), cao trào kháng Nhật cứu nước (1945 – phá kho thóc cứu dân, mở Hội nghị quân sự Bắc Kỳ, mở rộng đấu tranh ở nông thôn, thành thị và các khu công nghiệp), khởi nghĩa Ba Tơ chống Nhật (1945).

Năm 1930, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã hợp nhất Đông Dương Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn (trước đó tên là Tân Việt Cách mạng Đảng), và An Nam Cộng sản Đảng thành Đảng Cộng sản Việt Nam, sau đó đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương.

Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập, cuộc kháng chiến ở Việt Nam với hạt nhân là lực lượng công nhân và nông dân đã chuyển biến mạnh mẽ. Đến tháng 9 năm 1930, đã có hàng loạt cuộc đấu tranh quy mô lớn. Nông dân Nghệ-Tĩnh đã vũ trang tấn công vào bộ máy cai trị của chế độ thuộc địa, tiêu biểu như: Biểu tình của hơn 3.000 nông dân huyện Nam Đàn (30/8/1930), của gần 20.000 nông dân huyện Thanh Chương (1/9/1930), của hơn 3.000 nông dân huyện Can Lộc (7/9/1930)…., đỉnh cao là cuộc biểu tình đẫm máu ngày 12/9/1930 của khoảng 8.000 nông dân phủ Hưng Nguyên kéo đến phủ lỵ với những khẩu hiệu: “Đả đảo chủ nghĩa đế quốc! Đả đảo phong kiến! Bỏ sưu thuế, chia ruộng đất”. Thực dân Pháp dùng máy bay ném bom giết chết 217 người.

Cuộc nổi dậy Xô viết Nghệ Tĩnh kéo dài tới năm 1931, dẫn tới sự tan rã bộ máy ngụy quyền địa phương của thực dân và hình thành các chính quyền nhân dân. Tại Nghệ An, tổ chức Nông hội đã nắm chính quyền ở các xã thuộc huyện Thanh Chương, Nam Đàn, một phần Anh Sơn, Nghi Lộc, Hưng Nguyên và Diễn Châu. Tại Hà Tĩnh, các huyện Can Lộc, Thạch Hà và Đức Thọ có 172 xã thành lập chính quyền cách mạng.

Khí thế của Xô viết Nghệ Tĩnh nhanh chóng lan rộng trong cả nước. Chỉ trong tháng 9 và tháng 10 năm 1930, cả nước có 362 cuộc đấu tranh. Cuối cùng, do vũ khí thô sơ, thiếu kinh nghiệm tổ chức, thực dân Pháp xua quân tấn công, lực lượng nghĩa quân bị đàn áp và phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh tan rã.

Năm 1940, Xứ ủy Nam Kỳ chủ trương và lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ trong hoàn cảnh nước Pháp bị bại trận trong Thế chiến II, phát xít Nhật xâm chiếm Đông Dương. Ngày 23 tháng 11, khởi nghĩa đã diễn ra ở Mỹ Tho, Gia Định, Chợ Lớn, Tân An, Sóc Trăng, Cần Thơ, Vĩnh Long, Long Xuyên, Bạc Liêu…. đã gây nhiều tổn thất nặng cho giặc ngoại xâm và gây tiếng vang lớn. Nhưng sau đó Pháp – Nhật thẳng tay đàn áp cuộc khởi nghĩa, hàng ngàn người bị giết và bị bắt, nhiều làng bị đốt phá, nhiều cán bộ đảng viên cao cấp như Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập, Phan Đăng Lưu, Võ Văn Tần, Nguyễn Thị Minh Khai…. bị xử tử. Lực lượng khởi nghĩa một số rút được về U Minh, Đồng Tháp.

Biểu tượng của Nam Kỳ khởi nghĩa

Biểu tượng của Nam Kỳ khởi nghĩa

Đầu năm 1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về Việt Nam và trực tiếp lãnh đạo cuộc cách mạng giải phóng dân tộc chống Pháp – Nhật. Sau một thời gian nắm tình hình trong nước và chuẩn bị, Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập và chủ trì Hội nghị lần VIII Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương từ ngày 10 đến ngày 19 tháng 5 năm 1941 trong rừng Khuổi Nậm, thuộc Pác Bó, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.

Theo đề nghị của Nguyễn Ái Quốc, vào ngày 19 tháng 5 năm 1941, Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh (Việt Minh). Đây là một mặt trận đoàn kết dân tộc do Nguyễn Ái Quốc và Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập và lãnh đạo để thực hiện nhiệm vụ trước mắt, đó là chống Pháp – Nhật giành độc lập và thống nhất đất nước.

Tối 9/3/1945, Nhật chính thức đảo chính Pháp (chính quyền chống phát xít của Pháp do Charles de Gaulle lãnh đạo) trên toàn bán đảo Đông Dương. Sau khi độc chiếm Đông Dương, chính phủ Nhật liền thi hành chính sách mua chuộc, hứa hẹn mị dân, quảng bá thuyết Đại Đông Á, kết hợp với chính sách đàn áp bằng võ lực.

Về chính trị, Nhật tuyên bố trao trả “độc lập” cho Việt Nam, dựng lên “Đế quốc Việt Nam”, đưa lên cựu hoàng Bảo Đại và nhà nho Trần Trọng Kim, giữ nguyên bộ máy cai trị thuộc địa của Pháp và thay người Nhật vào vị trí người Pháp. Nhật cho quân đội tấn công vào các chiến khu và cơ sở cách mạng của Việt Minh.

Về kinh tế, Nhật chiếm các cơ sở kinh tế của chế độ cũ, in giấy bạc mới tung ra thị trường, cướp lấy tài nguyên, hàng hóa, lương thực và cướp đoạt tài sản dân chúng; làm cho nền kinh tế Đông Dương bị kiệt quệ, cuộc sống người dân điêu đứng. Giá gạo ở Bắc Kỳ vào tháng 10/1944 còn là 1.150 đồng/tạ, thì đến tháng 2/1945 đã là 1.000 đồng/tạ. Tình trạng đó đã dẫn đến nạn đói Ất Dậu, làm gần 2 triệu người bị chết đói.

Ngày 12 tháng 3 năm 1945, Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ra chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Đảng Cộng sản Đông Dương chủ trương phát động cao trào kháng Nhật cứu nước mạnh mẽ và chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa (Cách mạng tháng tám).

Phong trào đã diễn ra mạnh mẽ và tấn công Nhật toàn diện trên các mặt chính trị, kinh tế, quân sự trên khắp các thành thị, nông thôn và miền núi. Phong trào đã chiếm giữ được nhiều vùng rộng lớn, hình thành nhiều căn cứ Việt Minh.

Quân đội Nhật đã mở các cuộc càn quét, bình định, tấn công mạnh vào những vùng giải phóng. Lực lượng Việt Minh, các đội dân quân – tự vệ, du kích đã chống trả quyết liệt, tiêu biểu là các trận đánh bảo vệ chiến khu Vần, chiến khu Hiền Lương và chiến khu Trần Hưng Đạo. Tại các đô thị, các phong trào đấu tranh của công nhân, học sinh, viên chức dâng cao. Nhiều tổ chức công nhân cứu quốc được xây dựng ở nhiều xí nghiệp. Cao trào kháng Nhật hoạt động sôi nổi khắp ba miền.

Việt Minh thực hiện khởi nghĩa chống Nhật từng phần, mở rộng căn cứ địa, làm tiền đề tiến lên tổng khởi nghĩa (Cách mạng tháng tám). Phong trào đã giải phóng được nhiều vùng rộng lớn từ tay Nhật, hình thành nhiều vùng giải phóng, trong đó có Khu Giải phóng Việt Bắc – bao gồm Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang, và một số vùng ở Bắc Giang, Phú Thọ, Vĩnh Yên, Yên Bái.

Để đẩy mạnh hơn nữa công cuộc chuẩn bị tổng khởi nghĩa giành chính quyền từ tay Nhật, Đảng Cộng sản Đông Dương đã triệu tập Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ. Hội nghị họp từ ngày 15 đến 20/4/1945 tại huyện Hưng Hóa (Bắc Giang), do ông Trường Chinh chủ trì. Tham dự Hội nghị có đại diện từ nhiều chiến khu khác nhau, do xứ ủy Bắc Kỳ lãnh đạo, như chiến khu Quỳnh Lưu (Khu căn cứ cách mạng Quỳnh Lưu).

Hội nghị này quyết định phát triển lực lượng vũ trang và bán vũ trang, thống nhất các tổ chức vũ trang thành Việt Nam Giải phóng quân, xây dựng 7 chiến khu chống Nhật trong cả nước: Chiến khu Lê Lợi, Quang Trung, Hoàng Hoa Thám, Trần Hưng Đạo, Trưng Trắc, Phan Đình Phùng (miền Trung) và Nguyễn Tri Phương (miền Nam).

Hội nghị cử ra Ủy ban quân sự cách mạng gồm Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Lê Thanh Nghị, Trần Đăng Ninh, Chu Văn Tấn. Ủy ban này chỉ huy các chiến khu ở miền Bắc Việt Nam, đồng thời có nhiệm vụ lãnh đạo và hỗ trợ toàn quốc về quân sự. Đến tháng 5/1945, lãnh tụ Hồ Chí Minh quyết định về chiến khu Hoàng Hoa Thám và chọn Tân Trào (Sơn Dương, Tuyên Quang) làm đại bản doanh chỉ đạo phong trào chống Nhật trên cả nước.

Ngoài các chiến khu do Tổng bộ Việt Minh ở trung ương và Xứ ủy ở địa phương chủ trương thành lập, nhiều tỉnh, huyện cũng xây dựng những khu căn cứ riêng của địa phương để chống quân đội Nhật, như Yên Thế (Bắc Giang), Lập Trạch (Vĩnh Yên), Bãi Sậy (Hưng Yên), Trầm Lộng (Hà Đông), Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh), Tam Kỳ, Quốc Sơn, Tiên Phước (Quảng Nam), Đá Trắng, Sông Quao (Ninh Thuận).

Khi phát xít Nhật đầu hàng phe Đồng Minh giữa năm 1945, trên bán đảo Đông Dương có một khoảng trống quyền lực (chính quyền bù nhìn của Nhật chỉ có cái tên, không có quyền lực), Việt Nam có cơ hội lớn giành lại độc lập. Cơ hội này đã được lãnh tụ Hồ Chí Minh và Việt Minh tận dụng.

Noi gương, rút kinh nghiệm và tiếp nối những thành quả của cao trào kháng Nhật và khởi nghĩa Ba Tơ, cũng như tất cả cuộc chiến đấu chống Pháp – Nhật trước đó, ngày 19 tháng 8 năm 1945, Đảng Cộng sản Việt Nam và Mặt trận Việt Minh tổ chức cuộc Cách mạng tháng Tám, vận động nhân dân xuống đường giành chính quyền từ tay phát xít Nhật, bắt đầu từ Tổng khởi nghĩa Hà Nội rồi dần lan rộng ra khắp miền Bắc, miền Trung, miền Nam và cả nước.

Sáng ngày 26 tháng 8 năm 1945, tại ngôi nhà số 48 Hàng Ngang, Hà Nội, lãnh tụ Hồ Chí Minh triệu tập và chủ trì cuộc họp của Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong số các quyết định của cuộc họp này, Thường vụ nhất trí chuẩn bị Tuyên ngôn độc lập và tổ chức mít tinh lớn ở Hà Nội để ra mắt người dân và chính thức công bố quyền độc lập và thiết lập chính thể dân chủ cộng hòa.

Ngày 30 tháng 8 năm 1945, Bác Hồ mời một số người đến góp ý cho bản Tuyên ngôn độc lập do Người soạn thảo. Ngày 31 tháng 8 năm 1945, Bác Hồ bổ sung thêm cho dự thảo Tuyên ngôn độc lập.

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, lãnh tụ Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập trước nhân dân, chính thức khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Việt Nam chính thức phục hồi nền độc lập sau gần 100 năm ngoại thuộc.

Ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo việc tập trung tổ chức cuộc Tổng tuyển cử Quốc hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 14 ngày 8 tháng 9 năm 1945 và sắc lệnh số 51 ngày 17 tháng 10 năm 1945 về tổ chức Tổng tuyển cử.

Quốc hội khóa I được bầu ngày 6 tháng 1 năm 1946 trên cả nước, với tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu là 89%. Đây cũng là cuộc bầu cử thể hiện rõ nhất lòng dân. Tại những vùng tạm chiếm ở miền Nam (do Pháp theo chân Anh vào giải giáp Nhật rồi ở lại không đi), nơi chiến sự vẫn còn xảy ra ác liệt, lá phiếu bỏ hòm có khi phải đổi bằng máu. Có 42 cán bộ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bị chết trong công tác vận động bầu cử, trong đó có cả lãnh đạo khu Sài Gòn – Chợ Lớn là Nguyễn Văn Tư. Quân Pháp ở những vùng tạm chiếm (Sài Gòn, Chợ Lớn, Tân An) tấn công người đi bầu cử. Máy bay Pháp ném bom khu vực bầu cử ở Mỹ Tho, Khánh Hòa.

Theo sắc lệnh số 34-SL ngày 20 tháng 9 năm 1945, Ủy ban dự thảo Hiến pháp được thành lập. Bản dự án Hiến pháp đã được soạn thảo và công bố vào tháng 11 năm 1946. Ban dự thảo Hiến pháp (Tiểu ban Hiến pháp) được Quốc hội bầu ra ngày 2 tháng 3 năm 1946. Ban này tiếp tục nghiên cứu dự thảo hiến pháp.

Trong phiên họp ngày 29 tháng 10 năm 1946, Tiểu ban Hiến pháp được mở rộng thêm 10 đại biểu đại diện cho các nhóm, các vùng và đồng bào thiểu số để tu chỉnh dự thảo hiến pháp và trình ra Quốc hội ngày 2 tháng 11 năm 1946 để Quốc hội thảo luận, sửa chữa và thông qua.

Bản hiến pháp được Quốc hội Việt Nam khóa I thông qua vào ngày 9 tháng 11 năm 1946, tại kỳ họp thứ 2, với 240 phiếu tán thành trên tổng số 242 phiếu. Từ đó, Quốc hội Việt Nam đã hoạt động liên tục một cách hợp hiến, hợp pháp cho đến ngày nay.

Các văn bản, văn kiện có giá trị pháp lý sau đó như: Sắc lệnh 229/SL của chủ tịch Hồ Chí Minh quy định các cơ quan quân sự trên toàn cõi Việt Nam (bao gồm miền Nam Việt Nam) đều trực thuộc Bộ Quốc Phòng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào tháng 11/1946, tuyên cáo 12 khu hành chính của VNDCCH (trên cả nước) cũng vào tháng 11/1946. Tất cả những văn kiện pháp lý đó đều minh định một nguyên tắc cơ bản: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, theo luật pháp Việt Nam, là một nước độc lập và thống nhất từ Bắc chí Nam.

Đoạn trên phải trình bày khá dài và đầy đủ như vậy là để cho thấy tính chính danh và hợp pháp rõ ràng và không thể tranh cãi của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong thời kỳ trước kháng chiến chống Pháp, và còn để cho bạn đọc thấy rõ sự ấu trĩ của luận.điệu “Hồ Chí Minh và CSVN cướp quyền từ tay chính quyền Trần Trọng Kim” mà chúng ta đôi khi thấy ở những người cực đoan hoặc thiếu thông tin.

Hiến pháp 1959 cũng nhắc lại những nguyên tắc trên. Như vậy, bất kỳ thế lực bên ngoài nào xâm nhập lãnh thổ Việt Nam và tạo ra những “quốc gia” lên trên một quốc gia đã tồn tại hàng ngàn năm, dựng lên những “nhà nước” lên trên một Nhà nước đã thành lập từ năm 1945, lập ra những “quốc hội” lên trên Quốc hội khóa I đã tổ chức bầu cử toàn quốc từ năm 1946 thì đều là vi phạm luật pháp Việt Nam, xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam.

Tóm lại, sau khi Nhật đảo chính Pháp thì Việt Minh và quân đội Việt Nam đã tiến hành chống quân phiệt Nhật, kết quả cuối cùng là cuộc tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng tám giành chính quyền, giành thực quyền từ tay người Nhật về tay người Việt Nam, quân đội Việt Nam tước vũ khí, giải giáp một bộ phận quân đội Nhật.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập, khôi phục nền độc lập của Việt Nam sau gần 100 năm Pháp thuộc và bị phát xít Nhật xâm lược, thành lập nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước khi các quân đội nước ngoài tiến vào với danh nghĩa giải giáp Nhật.

Việt Nam thành lập Nhà nước, tổ chức bầu cử Quốc hội trên cả nước, hoàn thành Hiến pháp, thành lập Chính phủ, tuyên bố chủ quyền độc lập và thống nhất toàn quốc trong thời gian 1945-1946, trong lúc ngụy quyền “Quốc gia Việt Nam” và “Việt Nam Cộng hòa” của Pháp – Mỹ không tồn tại, và đến năm 1949 mới được thực dân Pháp dựng lên.

Như vậy, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Hồ Chí Minh có cơ sở lịch sử và các chứng cứ, văn kiện pháp lý cho thấy tính hợp pháp, danh chính ngôn thuận của mình. Và hành động của Mỹ xâm phạm chủ quyền Việt Nam ở miền Nam, phá hoại việc thực thi hiệp định Genève 1954 để thống nhất Việt Nam, thu nhận và sử dụng ngụy quyền mà Pháp đã sử dụng và để lại, thực hiện chia cắt Việt Nam, rồi lần lượt đưa hơn 60 vạn quân Mỹ và chư hầu vào mở rộng chiến tranh xâm lược, xua quân tấn công những vùng giải phóng, dội bom phá hoại, gây các tội ác v.v. đều là những hành động vi phạm luật pháp Việt Nam.

Những bằng chứng lịch sử đó đã tồn tại trong lúc trên đất Việt không tồn tại bất kỳ 1 quốc gia, nhà nước, chính thể nào khác, và cả sau này cũng không có một “quốc gia” nào khác được bầu ra theo một thể thức như vậy, mà mang tính toàn quốc, và đậm ý chí toàn dân đến như vậy.

III. Luật pháp Hoa Kỳ

Có lẽ Hoa Kỳ coi các chính quyền bù nhìn ở miền Nam Việt Nam như là một loại tay sai rẻ tiền nên đã không ký bất kỳ văn kiện nào về việc thiết lập căn cứ quân sự, đóng quân ở nước sở tại, ví dụ hiệp định Phòng thủ chung, hay thỏa ước về Trạng thái đóng quân (SOFA – Status of forces agreement), hay hợp đồng cho thuê lãnh thổ, mà Mỹ đã ký với các nước khác nơi họ đóng quân, theo thông lệ quốc tế.

Tất cả danh nghĩa pháp lý mà Mỹ biện minh cho các hành động quân sự ở Việt Nam là Nghị quyết Đông Nam Á, Luật 88-408 (tên thông dụng là Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ), một nghị quyết được Lưỡng viện Mỹ thông qua ngày 7/8/1964 vì bị lừa dối bởi các báo cáo bịa đặt của tổng thống và chính phủ, sau khi chính phủ Mỹ công bố cái gọi là “sự kiện Vịnh Bắc Bộ” 3 ngày trước đó.

Ngày 2/8/1964, hải quân và không quân Mỹ xâm phạm vịnh Bắc Bộ và tấn công bắn hư 3 tàu chiến của Việt Nam, gây thương vong cho 10 chiến sĩ hải quân Việt Nam. Ngày 4/8/1964, người Mỹ tưởng tượng ra một cuộc tấn công trả đũa của Hải quân Nhân dân Việt Nam, rồi công bố nó như là một dữ kiện có thật. Sau đó tổng thống Lyndon Johnson và chính phủ Mỹ đã gọi “trận hải chiến” hư cấu này là “Gulf of Tonkin incident” (Sự kiện Vịnh Bắc Bộ).

“Sự kiện” này sau đó đã trở thành danh nghĩa chiến tranh của đế quốc Mỹ, trở thành lời biện hộ cho cuộc chiến của giới diều hâu Mỹ, và thuyết phục được Quốc hội Mỹ thông qua Nghị quyết Đông Nam Á, tạo cơ sở pháp lý theo luật pháp Hoa Kỳ để leo thang chiến tranh xâm lược, đổ quân vào Việt Nam cứu nguy hệ thống thuộc địa kiểu mới đang rạn nứt, lung lay và trên đà sụp đổ.

Đây là cơ sở để tổng thống Mỹ Lyndon B. Johnson tiến hành chiến tranh phá hoại tại miền Bắc Việt Nam và leo thang chiến tranh, bắt đầu chuyển đổi chiến lược từ chiến tranh đặc biệt sang chiến tranh cục bộ ở miền Nam Việt Nam.

Vụ lừa dối về “sự kiện Vịnh Bắc Bộ” được chính người Mỹ lần lượt làm rõ theo các mốc thời gian sau đây:

Năm 1981, nhà báo Robert Scheer kiểm tra, đối chiếu lại nhật ký hàng hải của thuyền trưởng Herrick trên tàu chiến USS Maddox DD-731 với báo cáo ngày 4 tháng 8 của ông về một vụ “đột kích rõ ràng” của hải quân Việt Nam, thì phát hiện ra trong nhật ký hàng hải của con tàu vốn không có ghi lại sự kiện đó.

Tàu chiến USS Maddox DD-731 của hải quân Hoa Kỳ.

Tàu chiến USS Maddox DD-731 của hải quân Hoa Kỳ.

Năm 2001, chính phủ Mỹ đã bạch hóa một cuốn băng ghi âm, trong đó tổng thống Lyndon B. Johnson khi nói chuyện riêng với các cộng sự vào năm 1965 đã gián tiếp thừa nhận không có tàu chiến Việt Nam nào xuất hiện gần hải quân Mỹ trong ngày 4/8/1964. Johnson nói đùa: “Theo tất cả những gì tôi biết, hải quân của chúng ta đã bắn vào cá voi ở đó.”

Trong phim tài liệu Mỹ The Fog of War (Khói lửa chiến tranh) năm 2003, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara thừa nhận “cuộc tấn công của Bắc Việt” trong ngày 4 tháng 8 năm 1964 là chưa bao giờ xảy ra.

Các giải mật khác sau này, trong đó có một báo cáo năm 2005 của Cơ quan An ninh Quốc gia Hoa Kỳ/Cục An ninh Trung ương (National Security Agency/Central Security Service – NSA/CSS) khẳng định cuộc tấn công đêm 4/8/1964 là không có thật.

Tháng 10 cùng năm, Thời báo New York (New York Times) đã cho biết ông Robert J. Hanyok, chuyên viên sử học của Cơ quan An ninh Quốc gia Hoa Kỳ (NSA), đã kết luận rằng cơ quan này đã từng cố tình bóp méo các báo cáo tình báo với ngành lập pháp (quốc hội) về sự kiện Vịnh Bắc Bộ.

Tháng 1 năm 2008, Hiệp hội các Nhà khoa học Hoa Kỳ (FAS) cho biết NSA đã giải mật bản báo cáo Spartans in Darkness (Người Xpác-tơ trong Bóng tối), trong đó khẳng định Hải quân Nhân dân Việt Nam không hề tấn công tàu chiến Hoa Kỳ trong đêm 4 tháng 8 năm 1964.

Ngày 14/7/2010, Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Hoa Kỳ và Thượng nghị sĩ John Kerry (từng là ứng cử viên Tổng thống, hiện là Bộ trưởng ngoại giao), chủ tịch Ủy ban, đã công bố 1.165 trang hồ sơ được giải mật về cuộc chiến Mỹ – Việt. Tài liệu cho thấy, một số thượng nghị sĩ Hoa Kỳ thời đó đã phản đối hoặc thắc mắc về việc họ bị vô hiệu hóa, bị thông tin sai lệch từ chính phủ về sự kiện Vịnh Bắc Bộ. Hồ sơ được giải mật là bản ghi các cuộc điều trần và các cuộc họp trong hai năm 1967-1968, do chuyên gia sử học của Thượng viện Hoa Kỳ là D. Ritchie ghi lại.

Trong một phiên họp khác, thượng nghị sĩ Al Gore (cựu phó Tổng thống, ứng cử viên Tổng thống) cảnh báo: “Nếu đất nước này bị lừa dối, nếu Ủy ban này, Quốc hội này cùng bị lừa dối vì bị người ta dựng lên một sự kiện không có thật để tiến hành một cuộc chiến tranh làm hàng ngàn thanh niên bị chết vô nghĩa, và còn nhiều ngàn người nữa bị tàn tật suốt đời, thì đất nước đó đã mất đi uy tín, đạo đức, vị thế trên thế giới, và hậu quả sẽ rất nặng nề”.

Tất cả các bằng chứng, các hồ sơ được giải mật đó đã cho thấy rằng về luật pháp Hoa Kỳ, thì cuộc chiến vốn đã xuất phát từ một cơ sở dối trá, ngay từ trước khi Mỹ đổ đại quân vào Việt Nam. Sự dối trá này cộng với nhiều báo cáo dối trá khác đã bộc lộ sau chiến dịch Mậu Thân đã làm cho giáo sư tiến sĩ sử học Mỹ Larry Berman phải nói: Toàn bộ cuộc chiến này dựa trên cơ sở của một lời dối trá.

Như vậy, các hoạt động quân sự của Mỹ ở Việt Nam, đặc biệt trong giai đoạn 1965-1973, là vi phạm luật pháp Hoa Kỳ, lừa dối Quốc hội, và sử dụng quân đội Mỹ ở Việt Nam một cách bất hợp pháp theo luật pháp của chính Hoa Kỳ. Có lẽ vì vậy mà cuộc chiến của Mỹ ở Việt Nam mới bị nhân dân Mỹ chống đối với mức độ cao như thế, nhất là trong giới trí thức, luật gia.

Phong trào chống Chiến tranh Việt Nam tại Mỹ có tầm vóc quy mô và có sức lan tỏa hơn hẳn so với các cuộc chiến khác của Mỹ. Nhiều người Mỹ mơ hồ nhận ra đây là một cuộc chiến có gì đó mờ ám, bất hợp pháp, không minh bạch ngay từ đầu, dù lúc đó các hồ sơ về sự kiện Vịnh Bắc Bộ chưa được đưa ra ánh sáng. Nếu không có sự nghi ngờ và áp lực từ một bộ phận đại biểu trong Quốc hội Mỹ thì có lẽ “cuộc tấn công” tưởng tượng ngày 4/8/1964 đã không bị phát hiện và vạch trần.

IV. Luật pháp quốc tế

Sau kháng chiến chống Pháp, hiệp định Genève về Đông Dương cũng chỉ công nhận giới tuyến quân sự tạm thời trong 2 năm để chờ tổng tuyển cử thống nhất đất nước, tạm chia làm 2 vùng tập trung quân sự cho quân đội hai phía Việt – Pháp tập kết chứ không nói gì đến vấn đề thay đổi lãnh thổ.

Theo hiệp định này, vĩ tuyến 17 không phải là làn ranh có ý nghĩa về lãnh thổ hay chính trị. Hiệp nghị này không có ý nghĩa chia đôi đất nước về lãnh thổ và chính trị. Bản thân hiệp định Genève 1954 không hề chia cắt đất nước thành hai quốc gia. Đây không phải là hiệp định chia cắt đất nước như một số người thiếu thông tin đã nhầm lẫn, mà là hiệp định lập lại hòa bình, độc lập và thống nhất của 3 nước Đông Dương, Pháp rút quân trong 2 năm và tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam năm 1956.

Hiệp định Genève về Đông Dương năm 1954 có hai phần: Phần “Thỏa hiệp” và phần “Tuyên bố Cuối cùng” (Final Declaration).

Phần “Thỏa hiệp”, gồm 47 điều khoản, được ký kết giữa Henri Delteil, Quyền Tổng tư lệnh lực lượng Liên hiệp Pháp và Tạ Quang Bửu, Thứ trưởng quốc phòng VNDCCH. Phần này có những điều khoản chính như sau:

  • Thiết lập một đường ranh giới quân sự tạm thời tại vĩ tuyến 17 (Provisional Military Demarcation Line) để quân đội hai bên rút quân về: Lực lượng Quân đội Nhân dân Việt Nam ở trên vĩ tuyến 17, lực lượng quân đội Liên hiệp Pháp (French Union), bao gồm lính Pháp và lính bản xứ ở dưới vĩ tuyến 17.
  • Sẽ có một cuộc tổng tuyển cử tự do trên toàn cõi Việt Nam vào năm 1956. Quân đội Pháp phải rời khỏi Việt Nam trong 2 năm.

Bản “Tuyên bố cuối cùng” gồm 13 đoạn, nói đến cả sự thống nhất và độc lập của 3 nước Đông Dương, trong đó có một đoạn đáng để ý và cực kỳ quan trọng:

Đoạn (6) (Paragraph (6)) nguyên văn như sau:

“Hội Nghị nhận thức rằng mục đích chính yếu của Thỏa Hiệp về Việt Nam là dàn xếp những vấn đề quân sự trên quan điểm chấm dứt những đối nghịch quân sự và rằng ĐƯỜNG RANH GIỚI QUÂN SỰ LÀ TẠM THỜI VÀ KHÔNG THỂ DIỄN GIẢI BẤT CỨ BẰNG CÁCH NÀO ĐÓ LÀ MỘT BIÊN GIỚI PHÂN ĐỊNH VỀ CHÍNH TRỊ HAY ĐẤT ĐAI. Hội Nghị bày tỏ sự tin tưởng là thi hành những điều khoản trong bản Tuyên Ngôn này và trong Thỏa Hiệp ngưng chiến sẽ tạo nên căn bản cần thiết để trong tương lai gần đạt tới một sự dàn xếp chính trị ở Việt Nam”.

Và phần đầu của đoạn (7) nguyên văn như sau:

“Hội Nghị tuyên cáo rằng, về Việt Nam, sự dàn xếp những vấn đề chính trị, thực hiện trên căn bản tôn trọng những nguyên tắc về nền độc lập, sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, sẽ khiến cho người dân Việt Nam được hưởng những quyền tự do căn bản, bảo đảm bởi những định chế dân chủ được thành lập như là kết quả của một cuộc tổng tuyển cử bằng phiếu bầu kín.” (sẽ tổ chức bầu cử vào tháng 7, 1956).

Tổng kết nội dung cơ bản của Hiệp ước Genève về Đông Dương:

  • Các nước tham gia hội nghị tôn trọng quyền dân tộc cơ bản là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của 3 nước Việt Nam – Campuchia – Lào.
  • Ngừng bắn đồng thời ở Việt Nam và trên toàn chiến trường Đông Dương.
  • Sông Bến Hải, vĩ tuyến 17, được dùng làm giới tuyến quân sự tạm thời chia Việt Nam làm hai vùng tập kết quân sự. Chính quyền và quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (bao gồm cả người miền Nam) tập kết về miền Bắc; Chính quyền và quân đội Liên hiệp Pháp (bao gồm cả người miền Bắc) tập kết về miền Nam.
  • 300 ngày là thời gian để chính quyền và quân đội các bên hoàn thành việc tập trung. Dân chúng được tự do đi lại giữa hai miền.
  • 2 năm sau, tức ngày 20 tháng 7 năm 1956 sẽ tổ chức tổng tuyển cử tự do trong cả nước để thống nhất lại Việt Nam.

Nhưng không có cuộc tổng tuyển cử nào diễn ra được, Mỹ đã từ hậu trường nhảy ra sân khấu, xuyên tạc nội dung hiệp định và phá hoại việc thi hành hiệp định. Ém nhẹm, xuyên tạc những nội dung chính của hiệp định với người dân, phá hoại các điều khoản chính trong hiệp định, và nghiêm trọng nhất là điều khoản: “Đường ranh giới quân sự là tạm thời và không thể diễn giải bất cứ bằng cách nào đó là một biên giới phân định về chính trị hay đất đai”.

Người Mỹ vốn không ký vào hiệp định Genève 1954 để tránh bị ràng buộc pháp lý, bất lợi cho việc xâm lược và chia cắt Việt Nam trong chiến lược toàn cầu của họ. Nhưng chính họ cũng đã “nói hớ” và vô tình cho thấy rằng hiệp định Genève 1954 không hề là hiệp định chia đôi Việt Nam.

Nhà sử học, chính trị học George McTurnan Kahin và John W. Lewis trong sách The United States in Vietnam: An analysis in depth of the history of America’s involvement in Vietnam (Hoa Kỳ ở Việt Nam: Một phân tích chuyên sâu về lịch sử can thiệp của Hoa Kỳ vào Việt Nam), do Delta Books xuất bản năm 1967, đã cho biết: “Trong bản Tuyên ngôn đơn phương (Unilateral Declaration) của Hoa Kỳ về Hội nghị Genève không có chữ nào nói đến “Bắc Việt Nam” hay “Nam Việt Nam”. Tất cả những gì mà bên đại diện Mỹ nói đến là một Việt Nam“.

Những bằng chứng ở trên đã cho thấy hiệp định Genève 1954 không chia đôi đất nước, mà ngược lại chính là quy định việc thống nhất đất nước. Chính sự can thiệp và xâm lược miền Nam Việt Nam của Mỹ đã đưa đến sự chia đôi đất nước. Việc không có tổng tuyển cử và chia cắt Việt Nam là một sản phẩm của Mỹ. Còn danh từ “Nam Việt Nam” chỉ là một danh từ mang tính chất tuyên truyền giả dối mà người Mỹ dùng để gọi những chính quyền con đẻ của họ ở miền Nam Việt Nam.

Trong thời kỳ này, 1 Ủy ban quốc tế và hơn 20 Ủy ban quốc gia điều tra tội ác chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam đã được thành lập. Họ đã cử nhiều đoàn sang Việt Nam điều tra tội ác chiến tranh xâm lược và mở nhiều tòa án quốc tế xét xử những tội ác chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam, nhóm họp nhiều lần ở Thụy Điển, Đan Mạch, Pháp….

Ngày 15/11/1966, theo đề xuất của nhà sử học, toán học, logic học, xã hội học nổi tiếng người Anh, triết gia, Huân tước Bertrand Russell (lúc này đã 94 tuổi), toà án quốc tế xét xử tội ác của Mỹ ở Đông Dương đã được thành lập tại London, Anh.

Bertrand Russell là một nhà hoạt động vì hòa bình thế giới, có uy tín cao trên trường quốc tế. Tháng 7 năm 1964, ông dẫn đầu một đoàn đại biểu các tầng lớp nhân dân Anh và quốc tế đến sứ quán của Mỹ tại London phản đối chính sách xâm lược của Mỹ đối với Việt Nam. Uy tín của ông đã thu hút được nhiều nhân vật tên tuổi khác trên thế giới tham gia.

Ngay sau khi Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại, ném bom miền Bắc, Bertrand Russell đã gởi điện đến chủ tịch Hồ Chí Minh lên án hành động chiến tranh của Mỹ. Ngày 10/8/1964, Bác đã gởi điện cảm ơn, trong đó nêu rõ: “Chúng tôi luôn thiết tha với hòa bình và chủ trương giải quyết vấn đề Việt Nam bằng phương pháp hoà bình. Tôi cảm ơn cụ đã quan tâm đến tình hình nghiêm trọng do Mỹ gây ra trên đất nước chúng tôi và xin gởi cụ lời chào kính trọng”.

Sau đó một Tòa án quốc tế mang tên ông được thành lập để xét xử tội ác chiến tranh của Mỹ và đã tiến hành hai phiên xét xử, lần thứ nhất từ 2 đến 13/5/1967 tại Stockholm (thủ đô của Thụy Điển) và lần thứ hai từ 20/11 đến 1/12/1967 tại Copenhaguen (thủ đô của Đan Mạch) đã gây tiếng vang, thu hút đông đảo giới trí thức, luật sư.

Sau phiên xét xử đầu tiên, Bác Hồ gởi điện tới Huân tước Bertrand Russell khẳng định: “Sự nghiệp cao cả mà cụ đã đề xướng ra nay bước đầu được thực hiện… Đó là một sự kiện quốc tế rất quan trọng… Nhân dân Việt Nam và nhân dân yêu chuộng hoà bình và công lý trên thế giới đều mong đợi sự thành công của Toà án quốc tế”.

Cũng nhân dịp này, Bác còn gởi điện tới triết gia nổi tiếng người Pháp Jean Paul Satre là đồng chủ tịch Tòa án Quốc tế này và bày tỏ niềm tin tưởng: “Chắc chắn các dân tộc và tất cả những người yêu chuộng hòa bình và công lý sẽ sát cánh với các vị, nhiệt tình ủng hộ các vị”.

Tòa án Quốc tế Bertrand Russell đã cử 4 đoàn, với nhiều chuyên gia trong các lĩnh vực khác nhau, từ các quốc gia khác nhau, đến Việt Nam điều tra trực tiếp, thu thập tài liệu, dữ liệu, hồ sơ, bằng chứng, hỏi chuyện các nhân chứng, sau đó đã họp 2 phiên để xét xử tội ác chiến tranh của Mỹ.

Phiên họp thứ nhất tại thủ đô Stockholm, Thụy Điển, từ ngày 2 đến 15/5/1967. Tòa kết luận: Chính phủ Mỹ đã phạm tội ác xâm lược chống nước Việt Nam, các chính phủ Australia, New Zealand, Hàn Quốc là đồng lõa.

Phiên họp thứ hai tại thủ đô Copenhaguen, Đan Mạch, từ ngày 20/11 đến 1/12/1967. Tòa kết luận: Mỹ đã dùng các loại vũ khí tàn bạo nhất để tàn sát trẻ em, phụ nữ và dân thường Việt Nam. Đồng thời, Mỹ đã tiến hành xâm phạm Lào và có dã tâm xâm lược Campuchia. Đây là lần đầu tiên cuộc chiến tranh xâm lược cũng như tội ác mà người Mỹ gây ra ở Việt Nam đã bị tòa án quốc tế bao gồm một tập thể đông đảo các luật gia, sử gia, các nhà bác học, nhà báo danh tiếng đến từ nhiều quốc gia, kể cả nước Mỹ lên án một cách toàn diện và có hệ thống, gây ảnh hưởng lớn đối với dư luận toàn thế giới. Sau này Bác Hồ đã nhận xét: “Sự lên án đó có tầm quan trọng quốc tế về mặt bảo vệ công lý và quyền tự quyết của các dân tộc”.

Triết gia Bertrand Russell thời trai trẻ (1916)

Triết gia Bertrand Russell thời trai trẻ (1916)

Nói chung, sự tiến hành cuộc chiến này của Mỹ không phù hợp với các thông lệ quốc tế, và đi ngược lại các quy định của hiến chương Liên Hiệp Quốc về quyền dân tộc tự quyết, về sự tôn trọng độc lập chủ quyền và thống nhất của các nước. Các hoạt động quân sự của Mỹ ở Việt Nam không được sự ủng hộ, đồng ý của Liên Hiệp Quốc và thậm chí không được sự đồng tình của các đồng minh lâu năm, trong đó có các đồng minh cùng phe trong khối NATO và SEATO.

Tại phiên họp thứ 20 của Liên Hiệp Quốc (1965), đại diện của nhiều nước châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh đã yêu cầu Mỹ chấm dứt cuộc chiến của họ tại Việt Nam. Trong phiên họp thứ 22 của Liên Hiệp Quốc (1967), trong số 110 quốc gia thì chỉ có các đại diện của 7 quốc gia ủng hộ chính sách của Washington tại Việt Nam. Đại diện của 44 quốc gia, trong đó có 5 đại biểu các đồng minh của Mỹ trong khối NATO, kêu gọi Hoa Kỳ tìm cách chấm dứt chiến tranh và dừng ngay chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam.

Richard A. Falk, một giáo sư danh tiếng về môn Luật pháp Quốc tế của Đại học Princeton (Mỹ), người đã có hơn 40 tác phẩm hàn lâm về môn học này, đã phải thừa nhận: “Nếu chính phủ Hoa Kỳ tuân thủ luật pháp quốc tế, thì trải nghiệm khủng khiếp từ cuộc Chiến tranh Việt Nam đã không xảy ra.”

Chính vì những lẽ nêu trên mà phong trào ủng hộ Việt Nam trên thế giới diễn ra sôi nổi và rộng lớn chưa từng thấy trong lịch sử phong trào quần chúng tự phát trên thế giới.

>> Xem tiếp: Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt – Mỹ 1954-1975 (Kỳ 2)

(Thiếu Long)

Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về banbientap@nguyentandung.org
Thích và chia sẻ bài này trên