Sự căng thẳng trầm trọng trong tranh chấp lãnh thổ giữa Trung Quốc và Nhật Bản đặt ra loạt câu hỏi trước các chuyên gia về quan hệ quốc tế. Vì sao lại đạt mức kịch phát vào thời điểm này, nếu sự tranh cãi tồn tại dai dẳng trong nhiều thập kỷ? Tại sao, bất chấp tăng trưởng liên kết kinh tế song phương, các vấn đề chính trị không những không thuyên giảm mà trái lại gia tăng? Hiệu trưởng Học viện Ngoại giao thuộc Bộ Ngoại giao Nga, ông Alexander Lukin đã chia sẻ phân tích về những nguyên nhân xung đột, cũng như triển vọng giải quyết, trong bài viết dành riêng cho đài “Tiếng nói nước Nga”.
Nguyên nhân chính thức của sự căng thẳng là những động thái xuất phát từ phía Nhật Bản. Chính Tokyo khởi xướng chuyển giao các đảo Senkaku (Điếu Ngư) từ tay tư nhân thành sở hữu nhà nước. Về mặt pháp lý, động thái này không liên quan đến vấn đề chủ quyền: chẳng hạn như một người Hoa mua đất ở Nhật Bản, không có nghĩa Trung Quốc sẽ có chủ quyền với miếng đất ấy. Tuy nhiên, ở Trung Quốc việc các đảo trở thành tài sản nhà nước đã được xem như sự vi phạm status quo, mà theo như quan điểm của Trung Quốc, mức độ hiểu biết đã được duy trì kể từ thời điểm hai bên bình thường hóa quan hệ. Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Lạc Túc Thành đã trình bày quan điểm này tại một hội nghị chuyên đề nhân kỷ niệm 40 năm bình thường hóa quan hệ giữa hai nước.
Tuy nhiên theo giáo sư Lukin, hiện hữu cả những nguyên nhân nền tảng của mối xung khắc Trung-Nhật. Tiềm lực kinh tế và chính trị mà Trung Quốc có được trong quá trình tăng trưởng kinh tế lâu dài đang ngày càng trở nên hùng hậu. Thành tựu kinh tế đạt được nhờ một phần đáng kể vào sự hợp tác với các đối tác quan trọng, bao gồm có Nhật Bản. Kim ngạch thương mại giữa hai nước trong năm ngoái đạt 345 tỷ đô la Mỹ. Nhật Bản là nhà đầu tư lớn nhất vào nền kinh tế Trung Quốc, đối với Tokyo cũng Bắc Kinh là đối tác thương mại hàng đầu cả về xuất khẩu và nhập khẩu.

Hình minh họa
Tưởng như hai nước phải kiên quyết né tránh bất kỳ sự xung khắc. Tranh chấp nghiêm trọng chỉ gây thêm thiệt hại không thể khắc phục cho cả hai quốc gia đều đứng trước những khó khăn kinh tế nhất định. Tuy nhiên, không phải lúc nào mối quan hệ Trung-Nhật cũng được xác định bởi yếu tố kinh tế. Có thể nhớ, vào trước thời điểm phát xít Đức tấn công Liên Xô năm 1941, Trung Quốc và Nhật Bản từng là các đối tác kinh tế vô cùng mật thiết. Sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế, tất nhiên, là một yếu tố kiềm chế đối đầu giữa Trung Quốc và Nhật Bản. Nhưng bên cạnh đó còn có những tính toán mang tính chính trị, dân tộc và tâm lý.
Trung Quốc trở thành một cường quốc hùng mạnh mẽ và dĩ nhiên sẽ hành động tích cực hơn trong chính sách đối ngoại. Mặc dù Bắc Kinh tỏ ra thận trọng, nhưng trong nước đã hình thành và nổi lên những lực lượng xã hội ra sức kêu gọi hành động cương quyết hơn trong quan hệ với những đối tượng lịch sử “gây mếch lòng”, trên hết là Nhật Bản. Các lực lượng này đề xuất vận dụng tấm gương Hoa Kỳ, đó là sử dụng quân đội ngoài biên giới để bảo vệ lợi ích kinh tế và chính trị của đất nước. Bộ Ngoại giao Trung Quốc đối mặt với những chỉ trích về biểu hiện yếu đuối và không dứt khoát. Dưới áp lực của công chúng, nhà chức trách Bắc Kinh mở rộng lãnh vực “các lợi ích sống còn”: nếu trước đây chủ yếu đề cập tới Đài Loan, thì giờ còn có cả Điếu Ngư, các quần đảo ở Biển Đông /biển Nam Trung Hoa/, có Tây Tạng (nơi tất cả các cuộc đàm phán với Đức Đạt Lai Lạt Ma được tiến hành từ những năm 1980 đã bị đình chỉ vào năm 2010), cả Tân Cương và các vấn đề đảm bảo nguồn lực thiếu hụt cho nền kinh tế.

Làn sóng dân tộc chủ nghĩa dâng cao tại cả Nhật Bản và Trung Quốc
Trái lại, ở trong thế lui binh địa chính trị, Nhật Bản lại cực kỳ nhạy cảm với bất kỳ nhượng bộ hay thỏa hiệp. Mọi chính trị gia cố gắng tìm kiếm thỏa hiệp về tranh chấp lãnh thổ, mà ngoài với Trung Quốc ra còn hiện hữu trong quan hệ của Nhật Bản và tất cả các nước láng giềng khác như Nga, Hàn Quốc, Đài Loan, ngay lập tức đều chịu làn sóng lên án công phẫn từ phía giới chủ nghĩa dân tộc và bị tuyên bố là kẻ phản bội.
Vậy cuộc xung đột liệu có những triển vọng gì? Trong tình hình hiện nay, căng thẳng khó có thể tăng thêm. Cả hai nước đều quá quan tâm lẫn nhau để có thể cho phép một cuộc đối đầu nghiêm trọng. Những nỗ lực trừng phạt và áp lực từ Bắc Kinh sẽ không dẫn đến bất cứ tiến bộ nào. Các giải pháp ấy không hề mới mẻ, trong khi nền kinh tế Trung Quốc phụ thuộc vào Nhật Bản không ít hơn so với sự ràng buộc của Nhật Bản vào Trung Quốc.

Toyota Nhật Bản ở Trung Quốc bị đốt, phá
Vì vậy, bất kỳ động thái trừng phạt sẽ đều giáng hậu quả xuống cả đôi bên. Nhưng cũng khó thể lấy thỏa hiệp để giải quyết dứt điểm tranh chấp. Trung Quốc không hủy bỏ những yêu sách đối với Nhật Bản vốn liên quan cả vấn đề lãnh thổ lẫn các diễn giải về lịch sử, tới việc Nhật Bản từ chối thừa nhận sự tàn bạo trong thời kỳ thế chiến thứ II.
Có khả năng hơn hết, sóng xung đột sẽ lên xuống đều đặn, lúc tăng lúc giảm. Nếu thành công thu được tiếp tục thúc đẩy tiềm lực của đất nước, Bắc Kinh có thể trở nên khó tính hơn và gây trầm trọng thêm cho tình hình. Giả sử nền kinh tế Trung Quốc đứng trước những khó khăn nghiêm trọng, nhà chức trách Bắc Kinh sẽ phải dồn sức tập trung vào đối phó với những vấn đề cốt yếu, – đó là nhận định trong bài viết của Hiệu trưởng Alexander Lukin, Học viện Ngoại giao Bộ Ngoại giao Nga, dành cho đài “Tiếng nói nước Nga”.
Theo Tiengnoinuocnga


