Chủ đề

(Pháp luật) - Viện trưởng Viện KSND TP Đà Nẵng vừa có kháng nghị bản án của TAND TP Đà Nẵng vì cho rằng tòa tuyên án không đúng bản chất sự việc, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của đương sự.

Đó là vụ việc xảy ra ở phường Thọ Quang, quận Sơn Trà, Đà Nẵng. Tòa án cho rằng việc mua bán này là hợp pháp, nhưng viện kiểm sát thì bảo tòa đánh giá vụ việc như vậy không khách quan, toàn diện.

Bán nhà hay nhờ đứng tên?

Theo hồ sơ vụ án, năm 2008 ông Hoàng Anh Trinh (Việt kiều Mỹ) gửi tiền về nhờ vợ chồng ông Nguyễn Văn Minh (người bà con ở quận Sơn Trà) mua lô đất và làm nhà để sau này ông Trinh về Việt Nam định cư lâu dài. Nhà và đất nằm ở số 49 Lương Hữu Khánh (phường Thọ Quang, quận Sơn Trà).

Năm 2009, ông Trinh về Việt Nam sinh sống nên ông Minh đã giao lại nhà đất trên cho ông Trinh quản lý, sử dụng. Tháng 8-2012, ông Trinh quen và tổ chức đám cưới (không đăng ký kết hôn do thiếu một số giấy tờ) với bà Ngô Thị Bảo Toàn. Sau khi cưới, bà Toàn về ở cùng ông Trinh tại ngôi nhà nói trên.

Ngôi nhà có giá trị lớn, nhưng chỉ được giao dịch với giá 1 triệu đồng.

Ngôi nhà có giá trị lớn, nhưng chỉ được giao dịch với giá 1 triệu đồng.

Theo ông Trinh, thời điểm này do ông chưa có giấy chứng minh và hộ khẩu nên không thể đứng tên trên “sổ hồng”. Trong thời gian chung sống, bà Toàn yêu cầu ông Trinh sang tên nhà đất từ vợ chồng ông Minh sang cho bà Toàn. Bà Toàn hứa khi nào ông Trinh có đủ giấy tờ hợp lệ, đủ điều kiện đứng tên nhà đất thì bà sẽ làm thủ tục chuyển quyền sở hữu lại cho ông.

Vì tin tưởng bà Toàn nên ngày 16-1-2013, ông Trinh yêu cầu ông Minh lập hợp đồng chuyển nhượng nhà và đất cho bà Toàn (với giá 1 triệu đồng). Theo lời ông Trinh, trên thực tế ông chỉ nhờ bà Toàn đứng tên trên sổ hồng, chứ không có việc chuyển nhượng nhà đất. Sau đó, bà Toàn được Sở Tài nguyên và môi trường TP Đà Nẵng cấp sổ hồng. Một thời gian sau khi được cấp sổ hồng đứng tên mình, bà Toàn đem căn nhà này bán cho một người khác gần 5 tỉ đồng. Phát hiện sự việc, ông Trinh khởi kiện bà Toàn đề nghị tòa tuyên hủy sổ hồng, trả lại nhà cho ông.

Ông Trinh trình bày thực tế không có việc chuyển nhượng nhà đất từ vợ chồng ông Minh sang cho bà Ngô Thị Bảo Toàn với giá là 1 triệu đồng. Một căn nhà ba tầng, diện tích đất 361m 2 có giá trị 5 tỉ đồng chỉ chuyển nhượng 1 triệu đồng là một giao dịch để hợp thức hóa nhằm che đậy việc đứng tên giùm. Tuy nhiên, theo lời trình bày của bà Toàn, việc chuyển nhượng nêu trên giữa vợ chồng ông Minh với bà là để cấn trừ khoản tiền 20.000 USD và 600 triệu đồng mà ông Trinh nhận của bà.

Tại bản án sơ thẩm ngày 7-6-2018, TAND TP Đà Nẵng cho rằng “xuyên suốt quá trình chuyển giao quyền sở hữu nhà đất không có dấu hiệu hay căn cứ bà Toàn đã lừa dối ông Trinh để được nhận chuyển nhượng nhà đất. Ông Trinh khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng nhà đất, cho rằng bà Toàn lừa dối nhưng không chứng minh được việc bà Toàn lừa dối”.

Và tòa kết luận “như vậy về hình thức, nội dung và ý chí của các bên thì hợp đồng chuyển nhượng nhà đất giữa vợ chồng ông Minh với bà Toàn là hoàn toàn hợp pháp nên có hiệu lực”. Vì vậy, không chấp nhận yêu cầu đòi lại nhà của ông Trinh.

Viện kiểm sát: hợp đồng vô hiệu!

Sau khi TAND TP Đà Nẵng tuyên án, viện trưởng Viện KSND TP Đà Nẵng đã có kháng nghị. Theo viện trưởng Viện KSND TP Đà Nẵng, căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cùng lời trình bày của các đương sự thì có cơ sở xác định: nguồn gốc nhà đất số 49 Lương Hữu Khánh do ông Hoàng Anh Trinh gửi tiền nhờ ông Minh mua đất, làm nhà đứng tên giúp (do thời điểm này ông Trinh là Việt kiều định cư tại Mỹ nên không được sở hữu nhà ở tại Việt Nam).

Theo lời trình bày của ông Trinh thì do tin tưởng bà Toàn (bà Toàn nói để bà đứng tên, sau này đủ điều kiện bà sẽ chuyển tên lại cho ông) nên ông Trinh yêu cầu vợ chồng ông Minh chuyển nhượng nhà đất cho bà Toàn, hợp đồng có giá trị là 1 triệu đồng, nhưng thực tế không có việc chuyển nhượng giữa vợ chồng ông Minh với bà Toàn (không có việc giao nhận tiền, giao nhà).

Viện trưởng Viện KSND TP Đà Nẵng cho rằng lời trình bày trên của ông Trinh phù hợp với lời trình bày và thừa nhận của ông Minh, bà Toàn, phù hợp với thực tế về nguồn gốc nhà đất, về việc ông Trinh sinh sống tại nhà đất này từ năm 2009 đến nay. Ngược lại, bà Toàn cho rằng việc chuyển nhượng nêu trên giữa vợ chồng ông Minh với bà để cấn trừ khoản tiền 20.000 USD và 600 triệu đồng mà ông Trinh nhận của bà, tuy nhiên bà Toàn không chứng minh được việc ông Trinh nhận khoản tiền này. Vì vậy, theo Viện trưởng Viện KSND TP Đà Nẵng, có cơ sở xác định hợp đồng chuyển nhượng ngày 16-1-2013 giữa vợ chồng ông Minh với bà Toàn đối với nhà đất nói trên là giao dịch giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác.

Từ đó, Viện KSND TP Đà Nẵng xác định hợp đồng chuyển nhượng nhà đất của vợ chồng ông Minh với bà Toàn là vô hiệu. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên – môi trường Đà Nẵng cấp cho bà Toàn là có cơ sở.

“Việc nhận định và quyết định của TAND TP Đà Nẵng là không đúng bản chất sự việc, đánh giá chứng cứ không khách quan, toàn diện, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Trinh” – viện trưởng Viện KSND TP Đà Nẵng nêu quan điểm.

(Theo Tuổi Trẻ)

Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về banbientap@nguyentandung.org
Thích và chia sẻ bài này trên