Chủ đề

(Bạn đọc) - “Chế độ kiểm duyệt thường không muốn chấp nhận sự khác biệt, là điều dung túng cho sự thờ ơ và thiếu khoan dung: một vòng luẩn quẩn, cứng nhắc, không dễ vượt qua.” tríchPrimo Levi, Hồi ký Người chết đuối và Kẻ được cứu rỗi

Vừa qua, kết quả xếp hạng Tự do Báo chí do Tổ chứ Phóng viên Không biên giới (RSF) thực hiện được công bố, vị trí của Việt Nam không mấy làm khả quan khi đứng chung nhóm với Trung Quốc, Syria, Turkmenistan, Eritrea và Bắc Hàn. Cá nhân tôi cũng cho rằng kết quả ấy có phần hơi không đúng với trường hợp của Việt Nam, song vấn đề này vẫn rất nên được đem ra thảo luận bởi tầm quan trọng của nó, trên tinh thần thoải mái, không có vùng cấm, nhằm làm cải thiện tình hình. Lý do chính trị nhạy cảm cũng là điều làm khó những cuộc thảo luận như vậy. Tuy vậy, chúng ta nên phân biệt giữa những chỉ trích nhằm gây mất ổn định chính trị với những quan điểm mang tính xây dựng, chỉ mong đem lại sự tiến bộ cho đất nước. Không may, chúng ta vẫn thường hay đánh đồng tất cả.

Biếm họa về kiểm duyệt

Biếm họa về kiểm duyệt

Theo lẽ thường, bất cứ ai cũng có quyền đòi hỏi tự do ngôn luận, bởi đó là điều cần thiết. Tuy nhiên, chúng ta cũng nên thực tế và thực dụng, hãy bắt đầu từ những việc trong khả năng. Cụ thể, chúng ta không nhất thiết phải xóa bỏ hoàn toàn ngay mọi sự kiểm duyệt, mà đơn giản chỉ là điều chỉnh theo hướng linh hoạt hơn, để nó không còn là thứ gây kìm hãm, thậm chí ngăn cản tiến bộ. Khi viết những dòng này, lập trường của tôi cũng rất rõ ràng, hoàn toàn đứng ngoài những nhân tố mang tính chống đối, ngược lại, những ý kiến đóng góp ở đây chỉ mang tính xây dựng, những mong đất nước này có thể vượt qua những khó khăn thách thức, vì sự tiến bộ, một sứ mạng rất nên nhận được sự đồng thuận của tất cả người dân nếu muốn thành công.

Ở đầu bài viết, tôi có dẫn câu nói của Primo Levi, trích từ cuốn hồi ký của ông những năm tháng cuối đời, những lời làm nổi bật ý nghĩa đặc biệt quan trọng của tự do ngôn luận, như một thành tố căn bản của tự do phổ quát. Trong điều kiện lành lặn và khỏe mạnh, không phải do bất cứ nguyên nhân nào, chỉ có con người mới tự mình đánh mất đi nhận thức về những chân giá trị “Ở những xứ sở và thời đại mà truyền thông bị hạn chế, sớm muộn gì những quyền tự do khác cũng chịu chung số phận, những tranh luận sẽ chết trong trống rỗng, vô cảm lan tràn, chỉ còn lại sự thống trị bởi những quan điểm bị áp đặt”. Và Lysenko là một ví dụ điển hình. Đó chắc hẳn là bài học mà những người như chúng tôi, giới khoa học phải ghi nhớ mãi (Bản thân Primo Levi cũng là một nhà hóa học)

Primo Levi, nhà hóa học và nhà văn người Ý gốc Do Thái, người sống sót qua nạn Holocaust thời Đức Quốc Xã.

Primo Levi, nhà hóa học và nhà văn người Ý gốc Do Thái, người sống sót qua nạn Holocaust thời Đức Quốc Xã.

Trong hơn 30 năm, từ thập niên 30 tới 60 của thế kỷ 20, Lysenko đã áp đặt quan điểm sai lầm của ông ta về di truyền học lên nền sinh học Xô Viết. Bằng sự hậu thuẫn của Stalin và tiếp đó là Khruchev, ông ta đã có thể làm như vậy. Bản thân Stalin khi đó đã rất thích thú và tán dương ý tưởng của Lysenko, con trai một gia đình bần nông, người khẳng định rằng những đặc tích do tác động của môi trường hoàn toàn có thể được truyền lại cho các thế hệ mai sau, luận điểm này phù hợp với ý thức hệ Xô Viết khi đó, nhắm tới cổ vũ sự chuyên cần. Mặt khác, Lysenko đã bịt mắt đồng bào Xô Viết của ông ta, những người đang trông chờ vào những vụ mùa tốt đẹp hơn, sau khi trải qua nạn đói lớn vì mùa đông khắc nghiệt và hậu quả từ cuộc cải cách ruộng đất. Ở vào hoàn cảnh ấy, Lysenko đã hoàn toàn chiếm được những tiện nghi quá lớn và bắt đầu loại bỏ tất cả những nhà khoa học khác quan điểm với ông ta; khi đó lĩnh vực di truyền học trên thế giới đang nở rộ.

Trofim Lysenko nhà sinh học và nông học Liên Xô, người phải đối thuyết di truyền của Mendel để ủng hộ thuyết lai hóa, tạo chúng thành ngụy tạo khoa học, và chuyển thành thuyết Lysenko.

Trofim Lysenko nhà sinh học và nông học Liên Xô, người phải đối thuyết di truyền của Mendel để ủng hộ thuyết lai hóa, tạo chúng thành ngụy tạo khoa học, và chuyển thành thuyết Lysenko.

Mãi sau này, tới tận năm 1962, ba nhà vật lý Xô Viết nổi tiếng là Ginzburg, Kapitsa và Zel’s dovich mới có cơ hội công khai chỉ ra những sai lầm trong lý thuyết của Lysenko và sự bịp bợm của ông ta. Năm 1964, Sakharov tuyên bố trước Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô rằng Lysenko “phải chịu trách nhiệm cho sự tụt hậu đáng hổ thẹn của nền sinh học Xô Viết, đặc biệt trong lĩnh vực di truyền học, bởi hành vi phổ biến những quan điểm ngụy khoa học, bởi sự phiêu lưu không căn cứ của ông ta, khiến cho nền học thuật bị xói mòn, và cho sự phỉ báng, sa thải, bắt giữ, thậm chí cái chết của rất nhiều những nhà khoa học chân chính” Từ nửa sau những năm 1930, đã có rất nhiều những nhà di truyền học Xô Viết bị giết hại hay lưu đày tới những trại lao động cải tạo. Năm 1948, nhiều nhà di truyền học bị Lysenko kết tội là “ngụy khoa học tiểu tư sản” và tất cả đều bị sa thải. Tổng cộng, có tới 3000 nhà sinh học đã bị bỏ tù, sa thải, hay bị giết chỉ vì chống lại quan điểm của Lysenko.

Bài học đau buồn rút ra từ đây là: chính tư duy kiểm duyệt hạn hẹp, thứ đã được áp đặt một cách tương đối dễ dàng, lên ngay cả một cộng đồng toàn những trí thức, đã gây ra những hậu quả tai hại lâu dài mang tính định mệnh lên chính cộng đồng ấy. Trách nhiệm của chúng ta, những người làm khoa học, là phải ghi nhớ để kể lại câu chuyện này, và làm hết khả năng của chúng ta để tránh những sai lầm tương tự xảy ra với cộng đồng của chính chúng ta.

Thời đại ngày nay, khi mà Internet đang trở nên thống trị, chúng ta có thể có những kỳ vọng mang tính lý trí rằng việc áp dụng những biện pháp kiểm duyệt chỉ nhằm mục đích giáo dục, hướng dẫn trách nhiệm công dân, đặc biệt ở những người trưởng thành. Để có thể hoàn toàn che dấu thế hệ trẻ khỏi những điều mà họ có thể đọc trên internet giờ đây là điều bất khả. Làm vậy, không những không thu được gì, trái lại chỉ chuốc thêm sự thiếu tôn trọng từ phía họ mà thôi. Và đó cũng chính là điều khiến họ càng thêm mất niềm tin vào cơ quan kiểm duyệt.

Thực trạng, không may, lại có phần kém lạc quan hơn chúng ta mong muốn. Xin nêu một minh chứng: mới 3 tháng trước đây, chúng ta đã biết rằng trong danh sách 300 trường đại học tốt nhất châu Á, hoàn toàn vắng bóng những đại diện Việt Nam, theo thông tin từ chính Bộ Khoa học & Công nghệ. Chúng ta cần phải xem cách mà thế hệ trẻ ứng xử với thực trạng đáng buồn đó, bằng việc có những đề xuất gợi ý thúc đẩy tiến bộ; hãy xem họ cất tiếng nói hay nêu quan điểm trên những tạp chí hay diễn đàn mà họ hay tương tác; hãy xem cách mà họ nhận thức về tương lai của một đất nước, thứ nằm trong tay họ, bằng bầu nhiệt huyết và sự dũng cảm; có như vậy họ mới có khả năng làm thay đổi thực trạng, và không ai có thể làm điều đó thay cho họ.

Trong bảng xếp hạng giáo dục của Times Higher Education (2016), Việt Nam không có một đại diện nào trong top 300 của châu Á.

Trong bảng xếp hạng giáo dục của Times Higher Education (2016), Việt Nam không có một đại diện nào trong top 300 của châu Á.

Tuy nhiên, không mấy ai hành động như vậy, một phần cũng bởi họ đã được dạy nên im lặng và trở nên thụ động. Tôi biết về một tài năng vật lý trẻ, khi được đề nghị viết bài cho một tạp chí, nêu quan điểm của anh ấy về nền khoa học Việt Nam, và tôi cũng đã có dịp đọc. Đó thực sự là một bài viết rất sâu sắc, ở độ chín, trình bày tốt, có những phân tích rất xác đáng về hiện trạng ở Việt Nam và chỉ ra được những điểm chính cần lưu tâm. Hệ thống kiểm duyệt, lẽ ra nên thoải mái hơn trước tinh thần trách nhiệm như vậy của một công dân trẻ, và nên có sự hướng dẫn để tài năng ấy có thể được đem ra phục vụ đất nước cũng như trong lĩnh vực khoa học. Bản thân anh ấy cũng đã có thể làm như vậy, chỉ bằng một vài thay đổi nhỏ trong câu chữ, chẳng hạn như nhấn mạnh hơn về những ưu tiên cần thiết hay cách viết linh hoạt hơn trước những vấn đề “nhạy cảm”, thứ dễ dàng có thể động chạm tới một vài ai đó. Nhưng anh ấy đã không làm vậy, chỉ đơn giản là từ chối; câu chuyện ở đây đã chỉ ra những mặt tối của bức tranh khoa học Việt Nam.

Việt Nam đang rất thiếu những trường đại học và trung tâm nghiên cứu khoa học đẳng cấp để tạo động lực cho giới trẻ.

Việt Nam đang rất thiếu những trường đại học và trung tâm nghiên cứu khoa học đẳng cấp để tạo động lực cho giới trẻ.

Thật không may, chúng ta không bao giờ có thể giải quyết tình trạng bằng cách tô hồng cho những hiện thực vốn đang rất tăm tối. Đất nước đang phải đối mặt với rất nhiều thách thức. Chúng ta đang ở ngoài lề, ngay tại khu vực Đông Nam Á này, vì sự thiếu hụt nguồn nhân lực có kỹ năng; sự phát triển kinh tế của chúng ta đang phụ thuộc quá nhiều vào nguồn cung lao động rẻ mạt, thứ hấp dẫn những nhà đầu tư ngoại quốc: thu nhập tối thiểu của lao động Việt Nam chỉ là 110 USD một tháng, so với 160 USD của Trung Quốc hay 230 USD của Thái Lan. Không gì bịt mắt một người mù hơn việc anh ta không muốn nhìn, cũng không ai bịt tai một người điếc nặng bằng việc anh ta không muốn nghe. Để vượt qua trở ngại, chiến thắng những kẻ thù, cần phải hiểu rõ chúng và đương đầu với chúng bằng sự quả cảm. Việc chối bỏ thực tại sẽ chỉ đem lại những thất bại và sự gục ngã. Sự kiểm duyệt, thứ ngăn cản thế hệ trẻ mở đôi mắt của họ nhìn ra thế giới bên ngoài và cấm đoán họ nói lên những điều mà họ biết, không gì khác, chính là kẻ thù của đất nước. Nhiều người ngoại quốc hiểu rất rõ thực trạng của Việt Nam; chúng ta không thể và không nên che mắt họ.

Việt Nam đang rất thiếu lao động có kỹ năng cao. Thứ duy nhất hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài của chúng ta là nguồn cung dồi dào cho lao động giá rẻ.

Việt Nam đang rất thiếu lao động có kỹ năng cao. Thứ duy nhất hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài của chúng ta là nguồn cung dồi dào cho lao động giá rẻ.

Chúng ta có quả đủ những động lực mạnh mẽ để có thể tự hào là người Việt Nam, không nên hổ thẹn về những điều cần phải làm, ngược lại, hãy lấy can đảm và sự quyết tâm để xác định cho rõ những vấn đề và khắc phục chúng bằng tất cả những gì chúng ta có. Việc rao giảng những câu chuyện cổ tích sẽ chẳng thể nào giúp thế hệ trẻ trưởng thành. Chúng ta đã làm không đủ tốt trong việc khuyến khích tư duy phản biện nơi họ; tôi vẫn thường cảm nhận được rằng hệ thống giáo dục của chúng ta hiện nay chỉ đang bồi dưỡng cho thế hệ của những con người biết an phận. Chúng ta cho đó là điều tốt, giúp bảo vệ họ khỏi những nỗi gian truân mà cha anh họ đã từng nếm trải, nhưng thật ra chúng ta chỉ làm những điều hoàn toàn ngược lại: chúng ta thất bại trong việc trang bị cho họ khả năng chịu lỗi để đứng vững trước những khó khăn của cuộc đời, thất bại trong việc dạy họ cách phản ứng, biết nói “không” và biết “giận dữ” khi cần thiết, hay dám thay đổi những nguyên tắc quản trị xã hội khi chúng tỏ ra không còn phù hợp với thực trạng của một thế giới đang biến động từng ngày. Khi hệ thống kiểm duyệt này trở thành miếng giẻ bịt miệng những người trẻ, là thứ công cụ cắt gọt đi trí tuệ của họ, kết quả đạt được chỉ là những gì đi ngược với mong mỏi của chúng ta: một đất nước lạc hậu, tê liệt, xơ cứng, nơi sự bảo thủ trì trệ lên ngôi.

Cách mạng công nghệ 4.0 đang ập tới, chúng ta không thể đứng ngoài xu thế đó. Thay đổi hay là tụt hậu?

Cách mạng công nghệ 4.0 đang ập tới, chúng ta không thể đứng ngoài xu thế đó. Thay đổi hay là tụt hậu?

Việt Nam cần phải thay đổi để tiến bộ. Chỉ thế hệ trẻ mới có đủ tiềm năng để cống hiến bằng nhiệt huyết, lòng dũng cảm và sự quyết tâm mà sứ mạng đó đòi hỏi. Chúng ta cần phải duy trì ngọn lửa tinh thần ở những người công dân trẻ năng động, giúp họ trở nên có trách nhiệm với tương lai của đất nước, biết trăn trở về những lợi ích chung hơn là của bản thân. Chúng ta cần hướng dẫn họ trở thành những người trưởng thành có trách nhiệm, điều này gợi ý rằng nên để cho họ có quyền tự do biểu đạt những gì mà họ mong muốn, miễn rằng điều đó mang tính tích cực và được thực hiện trên tinh thần xây dựng. Xa hơn nữa, chúng ta cũng cần trở nên bao dung hơn, nếu sự nhiệt huyết của tuổi trẻ, có thể vô tình khiến họ trở nên đi xa hơn giới hạn cho phép.

Đó là tất cả những điều cần phải làm để giúp thế hệ trẻ có cơ hội, khuyến khích họ cùng nhau nói lên, thôi không còn thụ động nữa, mà trở nên năng động sáng tạo, biết quan tâm tới tương lai của đất nước, và ý thức được rằng điều đó nằm trong tay họ, rằng họ sẽ trở nên sớm già nua nếu không hành động, ngay từ bây giờ, và họ sẽ bỏ lỡ cơ hội để đem lại một thế giới tốt đẹp hơn cho con cháu mai sau. Sứ mạng ấy không thể đạt được khi tư duy kiểm duyệt hạn hẹp vẫn còn ngự trị, trong bầu không khí thiếu vắng sự tin tưởng. Chúng ta hãy ngăn, không để những điều ấy reo rắc nỗi sợ hãi trong xã hội, vì chúng chỉ làm vướng chân bận cẳng thế hệ trẻ khỏi sự thăng hoa, điều mà họ xứng đáng được hưởng.

Giáo sư Pierre Darriluat

Hải Đăng chuyển ngữ

Giáo sư Pierre Darriulat cùng các thành viên trong nhóm đang làm việc

Giáo sư Pierre Darriulat cùng các thành viên trong nhóm đang làm việc

Pierre Darriulat là một tên tuổi lớn trong lĩnh vực hạt nhân và vật lý thiên văn, viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm Khoa học Pháp từ 1986, giám đốc khoa học Trung tâm Nghiên cứu Hạt nhân Châu Âu từ 1987 – 1994.

Theo giới thiệu của nhà văn Nguyên Ngọc thì cuối năm 1999, sau khi nghỉ hưu GS Pierre Darriulat sang định cư ở Hà Nội cùng người vợ Việt Nam, dành gần hết thời gian và công sức giúp đỡ xây dựng và phát triển vật lý thiên văn ở Việt Nam.

Đặc biệt, với những thiết bị tự mua sắm bằng tiền túi hoặc tự tạo bằng nhiều cách, ông thành lập Phòng thí nghiệm tia vũ trụ Vietnam – Auger ở Viện Khoa học và Kỹ thuật Hạt nhân Việt Nam, đặt ngay trên nóc nhà trụ sở của Viện; đã hoạt động hiệu quả nhiều năm nay như một thành viên của Dự án thí nghiệm quốc tế Pierre Auger săn tìm các tia vũ trụ năng lượng siêu cao.

Ông sống giản dị, khiêm tốn, say mê nghiên cứu và hướng dẫn nghiên cứu, thương yêu chăm sóc tận tình các học trò của mình, đồng thời quan tâm thiết tha đến mọi mặt đời sống, nhất là về khoa học và giáo dục, ở đất nước mà ông đã gắn bó như một tổ quốc thứ hai.

Tự ông nêu một tấm gương sáng về người thầy trong một nền giáo dục mà chúng ta cần có.

Ông đặc biệt quan tâm đến những người trẻ, một mặt cổ vũ cho thế hệ trẻ được mạnh dạn giao phó trách nhiệm xứng đáng từ sớm, mặt khác luôn nhắc nhở họ “biết trọng trí tuệ hơn tiền bạc, quyền lực, và nhớ rằng sự giàu có của một đất nước chủ yếu là ở bàn tay và khối óc chứ không phải ở két sắt của các ngân hàng, là ở những sản phẩm làm ra hơn là những kỹ năng tiếp thị, rằng sự giàu có ấy chủ yếu nhờ những giọt mồ hôi của người lao động hơn là những quy định có khi ngớ ngẩn đặt ra bởi những người, những cơ quan quản lý thiếu chuyên nghiệp”. (Theo Vietnamnet)

Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về banbientap@nguyentandung.org
Thích và chia sẻ bài này trên