Chủ đề

(An Ninh Quốc Phòng) - Tiếp tục loạt chuyên đề báo cáo của Bộ Quốc phòng Mỹ trình lên Quốc hội nước này mang tên “Các diễn biến quân sự của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa 2014”, Ban biên tập xin giới thiệu bạn đọc nội dung tiếp theo “Chương 3: MỤC TIÊU VÀ XU HƯỚNG HIỆN ĐẠI HÓA PLA” trình bày chi tiết những khả năng quốc phòng mà Quân đội Trung Quốc đang theo đuổi và hướng đến.

Chương 3: MỤC TIÊU VÀ XU HƯỚNG HIỆN ĐẠI HÓA PLA

Hiện đại hóa toàn diện lực lượng quân đội là mục tiêu quan trọng hàng đầu của Trung Quốc trong "giai đoạn cơ hội chiến lược" hiện nay

Mục lục
[ẩn]

NĂNG LỰC ĐANG ĐƯỢC PLA ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN

Vũ khí hạt nhân. Trung Quốc chính thức thực hiện chính sách “không sử dụng vũ khí hạt nhân trước” (NFU), theo đó quốc gia này tuyên bố sẽ không bao giờ khởi xướng sử dụng vũ khí hạt nhân trước trong một cuộc xung đột, sẽ không đe dọa sử dụng vũ khí hạt nhân chống lại các quốc gia phi hạt nhân hoặc sử dụng vũ khí hạt nhân trong khu vực phi nguyên tử, và chỉ triển khai tấn công trả đũa sau khi bị tấn công bằng vũ khí hạt nhân.

Tuy nhiên, có một số vấn đề còn mập mờ trong điều kiện chính sách NFU của Trung Quốc đang áp dụng, bao gồm việc liệu Trung Quốc có tiến hành tấn công hạt nhân nếu lãnh thổ tranh chấp được nước này xem xét như lãnh thổ riêng của mình, các cuộc đình công biểu tình hoặc các vụ nổ trên không có được tính là lần khai hỏa hạt nhân đầu tiên hay không?

Hơn nữa, một số quan chức PLA đã công khai bằng văn bản về sự cần thiết trong việc nêu rõ các điều kiện mà Trung Quốc cần phải sử dụng vũ khí hạt nhân trước. Ví dụ, nếu cuộc tấn công thông thường của kẻ thù đe dọa sự sống còn của lực lượng hạt nhân của Trung Quốc hoặc đe dọa chính chế độ của nước này. Tuy nhiên, chưa có dấu hiệu nào cho thấy các nhà lãnh đạo Trung Quốc sẵn sàng cam kết thực hiện ý định này và do đó, hãy cẩn thận đối với học thuyết NFU của Trung Quốc.

Thế hệ các tên lửa di động mới của Trung Quốc mang tải trọng lớn bao gồm phương tiện chứa nhiều đầu đạn tấn công nhiều mục tiêu độc lập (MIRVs) và hỗ trợ thâm nhập nhằm đảm bảo chiến lược Trung Quốc vẫn trụ vững trước những mối đe dọa khi đối mặt với những tiến bộ không ngừng ở Mỹ, và ở một mức độ thấp hơn là khả năng tình báo, do thám và trinh sát chiến lược, tấn công chính xác và khả năng phòng thủ tên lửa của Nga. PLA đã phát triển những khả năng mới trong công tác chỉ huy, kiểm soát và thông tin liên lạc của các lực lượng hạt nhân của mình.

Những khả năng này đã giúp cải thiện năng lực chỉ huy và kiểm soát nhiều đơn vị cùng lúc trên chiến trường của Lực lượng Pháo binh Số 2. Thông qua việc sử dụng các khả năng điều khiển và thông tin liên lạc điện tử được cải tiến, các đơn vị tên lửa đạn đạo liên lục địa (ICBM) của Trung Quốc có thể tiếp cận tốt hơn vào các thông tin trên chiến địa và kết nối truyền thông đảm bảo vẫn hoạt động liên tục ở tất cả các cấp chỉ huy, và các
chỉ huy đơn vị có khả năng ra lệnh cho nhiều đơn vị trực thuộc cùng lúc, thay vì ra lệnh tuần tự thông qua tính năng ra lệnh bằng giọng nói.

Trung Quốc có khả năng sẽ tiếp tục đầu tư nguồn lực đáng kể nhằm duy trì một sức mạnh hạt nhân giới hạn nhưng đóng vai trò sống còn (đôi khi được mô tả là “đầy đủ và hiệu quả”) để đảm bảo PLA có thể phát động một loạt cuộc tấn công hạt nhân trả đũa.

Hệ thống vũ khí mặt đất. Kho vũ khí hạt nhân của Trung Quốc hiện nay bao gồm tên lửa đạn đạo liên lục địa silo CSS-4 (hay DF-5); tên lửa đạn đạo liên lục địa di dộng sử dụng nhiên liệu rắn CSS-10 Mod 1, Mod 2 (DF-31 và DF-31A); và tên lửa đạn đạo có tầm bắn hạn chế CSS-3 (DF-4). Lực lượng này cũng bổ sung nhiều tên lửa đạn đạo tầm trung (MRBM) sử dụng nhiên liệu rắn CSS-5 (DF-21) cho các nhiệm vụ răn đe trong khu vực. Đến năm 2015, các lực lượng hạt nhân của Trung Quốc sẽ được tăng thêm các tên lửa đạn đạo CSS-10 Mod 2.

Phạm vi hoạt động của các hệ thống tên lửa đạn đạo liên lục địa và tầm xa đang nằm trong kho vũ khí của Trung Quốc

Hệ thống vũ khí trên biển. Trung Quốc tiếp tục sản xuất các tàu ngầm tên lửa đạn đạo năng lượng hạt nhân (SSBN) lớp JIN, với 3 chiếc đã được chuyển giao và 2 chiếc đang trong các giai đoạn đóng khác nhau. Các SSBN lớp JIN mới nhất sẽ mang lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm (SLBM) JL-2 với tầm bắn ước tính 7.400 km. Với các vũ khí này, Hải quân PLA được trang bị khả năng tấn công tên lửa tầm xa trên biển hiệu quả.

Định hướng tương lai. Trung Quốc nghiên cứu và phát triển một loạt công nghệ nhằm nỗ lực chống lại các hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo, bao gồm các phương tiện chứa nhiều đầu đạn tấn công nhiều mục tiêu độc lập, các thiết bị chim mồi, nhiễu xạ, gây nhiễu và lá chắn nhiệt của Mỹ và các nước khác.

Giới truyền thông chính thức của Trung Quốc cũng trích dẫn nhiều cuộc huấn luyện tác chiến của Lực lượng Pháo binh Số 2 trong điều kiện chiến đấu mô phỏng mang đầy đủ đặc trưng cơ động, ngụy trang và tác chiến nhằm hỗ trợ gia tăng khả năng sống sót cho các thế hệ vũ khí mới. Cùng với việc gia tăng khả năng di động và sống sót cho các thế hệ tên lửa mới, các cuộc huấn luyện công nghệ này còn góp phần nâng cao năng lực cho lực lượng hạt nhân và khả năng tấn công chiến lược của Trung Quốc.

Việc gia tăng số lượng các tên lửa đạn đạo liên lục địa (ICBM) di động và bắt đầu các cuộc tuần tra ngăn chặn tàu ngầm tên lửa đạn đạo năng lượng hạt nhân (SSBN) sẽ buộc PLA triển khai nhiều hệ thống và cơ chế kiểm soát và điều khiển phức tạp hơn nhằm bảo vệ sự toàn vẹn của các hệ thống phóng hạt nhân của một lực lượng lớn và phân tán hơn.

Chống tiếp cận/Chống xâm nhập (A2/AD). Như một phần của nỗ lực lên kế hoạch dự phòng bất trắc trong quân sự, Trung Quốc tiếp tục phát triển các biện pháp ngăn chặn hoặc chống lại sự can thiệp của bên thứ ba, đặc biệt là Mỹ.

Cách tiếp cận của Trung Quốc trong việc đối phó với thách thức này được thể hiện trong nỗ lực lâu dài nhằm phát triển khả năng tấn công tầm xa, thậm chí còn có thể vươn đến khu vực Tây Thái Bình Dương, khả năng này được Bộ Quốc phòng mô tả như khả năng “chống tiếp cận và chống xâm nhập” (A2/AD).

Trung Quốc đang theo đuổi một loạt khái niệm và hệ thống tác chiến phục vụ trong cuộc chiến tranh thông tin, hệ thống phòng không, các hệ thống vũ khí đặt trong vũ trụ, dưới biển, trên mặt biển và trên không để đạt được khả năng này, hình thành một loạt khả năng tấn công đan xen kéo dài từ bờ biển Trung Quốc sang khu vực Tây Thái Bình Dương.

Một yếu tố cần thiết, nếu không nói là một điều kiện tiên quyết cơ bản, đối với
khả năng A2/AD của Trung Quốc là kiểm soát và thống trị thông tin trong tất cả lĩnh vực của chiến trường hiện đại. Các nhà chiến lược PLA thường trích dẫn sự cần thiết của nhu cầu kiểm soát thông tin trong chiến tranh hiện đại, đôi khi được gọi là “phong tỏa thông tin” hoặc “thống trị thông tin”, đồng thời chiếm  đoạt những sáng kiến và giành ưu thế thông tin trong giai đoạn đầu của một cuộc chiến, từ đó giúp quân đội đạt được ưu thế trên không và trên biển.

Trung Quốc đang cải thiện thông tin và an ninh tác chiến nhằm bảo vệ các hạ tầng thông tin riêng và phát triển khả năng tác chiến thông tin điện tử, bao gồm cả phủ nhận và lừa dối (D&D), nhằm đánh bại kẻ thù. “Phong tỏa thông tin” có thể giúp PLA hình dung chiến thuật triển khai các công cụ quân sự và phi quân sự của kẻ thù trên chiến trường, bao gồm cả trên không gian mạng và ngoài vũ trụ, từ đó vô hiệu hóa các ưu thế thông tin đối với kẻ thù.

Các khoản đầu tư của Trung Quốc cho các hệ thống chiến tranh điện tử (EW) tiên tiến, các vũ khí trên không gian và các hoạt động mạng máy tính (CNO) – kết hợp với nỗ lực tuyên truyền và phủ nhận một cách mập mờ – phản ánh sự ưu tiên và nhấn mạnh của các nhà lãnh đạo Trung Quốc đối với nỗ lực tăng cường khả năng để giành lợi thế thông tin.

Trong các lĩnh vực truyền thống, sự tập trung vào khả năng A2/AD của Trung Quốc dường như hướng tới việc hạn chế hoặc kiểm soát quyền tiếp cận các khu vực ngoại vi Trung Quốc, bao gồm cả Tây Thái Bình Dương. Những tiến bộ trong việc phát triển các hệ thống tên lửa vũ trang thông thường của Trung Quốc diễn ra nhanh chóng, ngay cả trong bối cảnh hiện đại hóa quân sự toàn diện của Trung Quốc.

Gần mười năm trước, hàng trăm tên lửa đạn đạo tầm ngắn chỉ có thể nhắm vào các mục tiêu tại Đài Loan, mà chưa có khả năng tấn công nhiều vị trí khác bên trong hoặc ngoài chuỗi đảo đầu tiên (chẳng hạn như các căn cứ Mỹ tại Okinawa hay Guam). Nhưng ngày nay, Trung Quốc có hơn 1.000 tên lửa đạn đạo thông thường. Các căn cứ của Mỹ trên đảo Okinawa đều nằm trong phạm vi tấn công của một loạt tên lửa đạn đạo tầm trung trang bị đầu đạn thường (MRBM) của Trung Quốc, và Guam cũng nằm trong tầm tấn công của hệ thống tên lửa hành trình không đối đất (ALCM).

Tên lửa Trung Quốc hoạt động ngày càng chính xác và phù hợp hơn cho mục đích tấn công các căn cứ không quân trong khu vực, cơ sở hậu cần và các hạ tầng khác trên mặt đất, được các nhà phân tích quân sự Trung Quốc kết luận là một điểm yếu trong chiến tranh hiện đại. Trung Quốc đang khai thác một loạt tên lửa đạn đạo được trang bị đầu đạn thông thường, tên lửa hành trình tấn công mặt đất và không đối đất, các lực lượng tác chiến đặc biệt và nâng cao khả năng chiến tranh mạng để sẵn sàng kiềm chân các mục tiêu có nguy cơ gây chiến cao trong khu vực.

Trong một cuộc xung đột ngắn hạn, hoạt động tác chiến của Hải quân PLA có thể bắt đầu ở khu vực ngoài khơi và ven biển với các cuộc tấn công bằng tên lửa hành trình bảo vệ bờ biển, máy bay tấn công trên biển và các hệ thống vũ khí nhỏ hơn, và có khả năng vươn xa đến chuỗi đảo thứ hai và Eo biển Malacca nhờ sử dụng các tàu ngầm và tàu lớn nổi trên mặt nước.

Khi gia tăng nhiều kinh nghiệm và mua lại số lượng lớn hệ thống vũ khí hiện đại hơn, bao gồm các tàu chiến tích hợp hệ thống phòng không tầm xa, Hải quân PLA sẽ triển khai các hoạt động tác chiến tiến vào sâu hơn ở khu vực Tây Thái Bình Dương. Hải quân PLA cũng gia tăng phát triển khả năng mới đối với các cuộc tấn công đất liền từ tàu chiến, sử dụng tên lửa hành trình. Trung Quốc xem tên lửa hành trình chống hạm tầm xa là một vũ khí quan trọng trong loại hình hoạt động này, và đang tích cực phát triển đa dạng các hệ thống và loại hệ thống vũ khí mới nhằm phục vụ cho mục đích này.

Vị trí "chuỗi đảo đầu tiên" và "chuỗi đảo thứ hai"

Những nền tảng vũ khí mới đang được quan tâm phát triển bao gồm tàu ngầm tấn công thông thường và tàu ngầm tấn công chạy bằng năng lượng hạt nhân (Tàu ngầm SS lớp KILO, SS lớp SONG, tàu ngầm SSP lớp YUAN, tàu ngầm SSN lớp SHANG), các chiến hạm (bao gồm tàu khu trục được trang bị tên lửa dẫn đường (DDG) Luyang III [Type 052D], tàu DDG LUZHOU [Type 051C], tàu DDG Luyang I/II 52[Type 052B/C], tàu DDG lớp SOVREMENNY II, tàu khu trục tên lửa dẫn đường nhỏ (FFG) Jiangkai II [Type 054A], tàu tàu hộ tống (FFL) JIANGDAO [Type 056]) và máy bay tấn công trên biển (FB-7A, H-6G và Su-30MK2).

Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn vấp phải một số hạn chế nếu triển khai một cuộc xung đột ngắn hạn. Đầu tiên là khả năng tác chiến chống ngầm ở khu vực nước sâu của Hải quân PLA dường như còn tụt hậu so với khả năng tác chiến trên mặt nước và trên không. Thứ hai, vẫn chưa rõ liệu Trung Quốc có khả năng thu thập thông tin chính xác về mục tiêu và sử dụng chúng để khởi động các hệ thống vũ khí đúng lúc nhằm tấn công các mục tiêu trên biển và bên ngoài chuỗi đảo đầu tiên hay không. Tuy nhiên, các tàu ngầm Trung Quốc đã được trang bị đầy đủ khả năng để bảo vệ các tàu chạy trên mặt biển tránh khỏi những rủi ro, và Trung Quốc đang nỗ lực khắc phục những hạn chế trong các lĩnh vực khác.

(còn tiếp)

Ban biên tập

Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về banbientap@nguyentandung.org
Thích và chia sẻ bài này trên