Chủ đề

(Không gian mạng) - Tiếp theo loạt bài trong báo cáo dài 96 trang được Bộ Quốc phòng Mỹ trình lên Quốc hội nước này mang tên “Các diễn biến quân sự của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa 2014”, Ban biên tập xin giới thiệu bạn đọc chi tiết nội dung “Chương 2: Chiến lược của Trung Quốc”. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi sẽ trình bày những nội dung tranh cãi nội bộ về vai trò Trung Quốc trong khu vực và toàn cầu ở giai đoạn hiện nay.

Chương 2: Chiến lược của Trung Quốc (tiếp theo)

Nhằm che giấu tham vọng mở rộng bá quyền trong khu vực và tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển "giai đoạn cơ hội chiến lược", các nhà lãnh đạo Trung Quốc đang đẩy mạnh hợp tác với các quốc gia trong khu vực, đồng thời duy trì những lợi ích và sự ổn định liên tục tại các khu vực ngoại vi Trung Quốc

Mục lục
[ẩn]

TRANH CÃI NỘI BỘ VỀ VAI TRÒ TRONG KHU VỰC VÀ TOÀN CẦU CỦA TRUNG QUỐC

Lãnh đạo Trung Quốc tiếp tục ủng hộ châm ngôn cũ của vị lãnh đạo tối cao Đặng Tiểu Bình từ đầu những năm 1990 rằng, Trung Quốc nên “bình tĩnh quan sát; bảo đảm vị thế của chúng ta; bình tĩnh đối phó với các vấn đề; che giấu khả năng và chờ đợi thời cơ; tốt hơn là không thể hiện nhiều; và không bao giờ tuyên bố lãnh đạo”.

Châm ngôn này đã phản ánh niềm tin của Đặng Tiểu Bình đối với việc tăng cường tối đa các lợi ích của Trung Quốc bằng cách tập trung vào sự phát triển và ổn định nội bộ, đồng thời chỉ đạo rõ ràng đối với cuộc đối đầu trực diện hoặc đối đầu với các cường quốc.

Trong tháng 12/2010, Ủy viên Quốc Vụ Viện Đới Bỉnh Quốc đặc biệt trích dẫn chỉ dẫn của Đặng Tiểu Bình, đồng thời khẳng định Trung Quốc tôn trọng “con đường phát triển hòa bình” và sẽ không tìm kiếm mở rộng bá quyền. Ông khẳng định, việc “ẩn mình và chờ thời” không chỉ là “màn sương mỏng” được sử dụng khi Trung Quốc gia tăng sức mạnh, mà là một lời khuyên phải kiên nhẫn và không tạo sự nổi bật.

Tuy nhiên, một số học giả Trung Quốc đang tranh luận về việc liệu phương pháp tiếp cận các chính sách của Đặng Tiểu Bình sẽ tiếp tục nhận được sự ủng hộ khi lợi ích của Trung Quốc và sức mạnh quân sự ở nước ngoài không ngừng gia tăng.

Các lợi ích an ninh trước mắt của Trung Quốc đã thay đổi đáng kể từ thời Đặng Tiểu Bình dẫn đến sự phụ thuộc nặng nề vào ngành thương mại hàng hải. Việc nâng cao năng lực của Hải quân Trung Quốc cho phép PLA theo đuổi các vai trò và nhiệm vụ từng được đánh giá là quá tầm chỉ trong thập kỷ trước.

Những người đề xướng một vai trò tích cực hơn của Trung Quốc trên trường quốc tế cho rằng, Trung Quốc sẽ có vị thế tốt hơn nếu tạo được lập trường vững chắc khi đối mặt với Mỹ và những áp lực khác trong khu vực. Những ý kiến này đang gia tăng như kết quả của những căng thẳng gia tăng kể từ năm 2012 với Philippines và Việt Nam trên Biển Đông và với Nhật Bản tại quần đảo Senkaku.

Khu vực ngoại vi của Trung Quốc. Lãnh đạo Trung Quốc đang đối mặt với một tình thế tiến thoái lưỡng nan về chính sách trong việc tìm cách duy trì một ngoại vi ổn định để đảm bảo rằng “giai đoạn cơ hội chiến lược” phục vụ cho sự phát triển vẫn tiếp tục.

Trung Quốc cũng nhận thấy việc các nước khác trong khu vực đang khẳng định lợi ích quốc gia tại khu vực ngoại vi Trung Quốc và cảm thấy bị cưỡng ép phải thỏa thuận nhằm đảm bảo cho sự ổn định liên tục. Tuy nhiên, các nhà lãnh đạo Trung Quốc lo ngại rằng, việc phản ứng quá mạnh có thể thúc đẩy các cá nhân và tổ chức trong khu vực tạo sự đối trọng với sự trỗi dậy của Trung Quốc thông qua tăng cường hợp tác lớn hơn với các nước khác và với Mỹ.

Do đó, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đang cố gắng duy trì một sự cân bằng khéo léo giữa việc bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ khi đối mặt với những khiêu khích đe dọa của các nước láng giềng, trong khi đồng thời giảm bớt những nhận thức về mối đe dọa trên toàn cầu.

Trung Quốc công khai tuyên bố rằng, sự trỗi dậy của quốc gia này mang mục đích “hòa bình” và không nuôi dưỡng ý định “bá quyền” hay khát vọng bành trướng lãnh thổ. Tuy nhiên, sự thiếu minh bạch của Trung Quốc đối với khả năng quân sự đã làm gia tăng mối quan ngại trong khu vực về các ý định của Trung Quốc.

Các nhà lãnh đạo Trung Quốc đang cố gắng duy trì sự cân bằng giữa việc bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ trước những "khiêu khích" của các nước láng giềng, đồng thời giảm bớt những nghi ngại của các nước về mối đe dọa an ninh từ phía Trung Quốc. Quốc gia này tuyên bố rằng, sự trỗi dậy của Trung Quốc mang mục đích “hòa bình” và không nuôi dưỡng ý định “bá quyền” hay khát vọng bành trướng lãnh thổ.

Khả năng triển khai sức mạnh. Từng diễn ra một cuộc tranh luận tích cực giữa các nhà lý luận quân sự và dân sự Trung Quốc liên quan đến các sức mạnh tương lai mà PLA sẽ theo đuổi nhằm thúc đẩy lợi ích của Trung Quốc đang ngày càng vượt quá những yêu cầu truyền thống.

Một số quan chức cấp cao và các nhà lý luận dân sự ủng hộ cho sự bành trướng khả năng triển khai sức mạnh của PLA để tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các nhiệm vụ vượt ra khỏi Đài Loan và những tranh chấp trong khu vực. Các quan chức Trung Quốc công khai tranh luận về việc gia tăng sức mạnh hàng hải cho Trung Quốc nhằm triển khai các nhiệm vụ gìn giữ hòa bình quốc tế, hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thiên tai và bảo vệ các tuyến đường biển.

Việc vận hành thử tàu sân bay đầu tiên của Hải quân PLA vào năm 2012 không chỉ trở thành một biểu tượng của uy tín quốc gia, mà còn minh họa cho những khát vọng này.

Quyết định và Ý định. Xuất hiện một số dấu hiệu cho thấy sự thay đổi trong việc ra quyết định hoặc ý định của Trung Quốc linh hoạt theo từng vấn đề cụ thể.

Điều này có thể được phản ánh thông qua các bài phát biểu trong các tổ chức khu vực và đa quốc gia, các bình luận đăng trên các tờ báo chính thức trong nước hoặc các cuộc trò chuyện của cố vấn nổi tiếng Trung Quốc, những điều chỉnh sửa đổi đối với các báo cáo của ĐCSTQ hoặc Sách Trắng Quốc phòng Trung Quốc, những thay đổi trong quan điểm của những nhà đối thoại dân sự và quân sự, bố trí lực lượng và những thay đổi trong chính sách ngoại giao quân sự.

Việc triển khai, kiểm tra và dàn quân của các lực lượng quân sự là những khía cạnh liên quan đến hầu hết các chỉ báo và cảnh báo, hiện vẫn chưa rõ Trung Quốc đánh giá bản chất leo thang của vị thế lực lượng quân sự như thế nào.

Cam kết quân sự của PLA. Những cam kết của PLA với quân đội nước ngoài tiếp tục gia tăng. Ở cấp tác chiến, những cam kết này cung cấp cơ hội cho PLA chia sẻ các học thuyết, chiến lược, chiến thuật, kỹ thuật và quy trình tham chiến với các quân đội khác, cả quân đội hiện đại và đang phát triển. Ở cấp chiến lược, Trung Quốc sử dụng các cam kết quân sự như một nền tảng chứng minh khả năng phát triển của PLA, với tư thế của một quân đội hiện đại, và tiềm năng trở thành một đối tác an ninh.

Các cuộc viếng thăm và trao đổi cấp cao tạo cho Trung Quốc những cơ hội tăng cường sự khẳng định quốc tế của các quan chức quân sự, tuyên truyền các quan điểm của Trung Quốc với khán thính giả nước ngoài, hiểu biết tốt hơn đối với các quan điểm khác nhau trên thế giới, thúc đẩy các mối quan hệ đối ngoại thông qua sự liên hệ giữa các cá nhân và các chương trình viện trợ quân sự. Hoạt động của PLA mở rộng ra ở nước ngoài cho phép các sĩ quan quân đội PLA quan sát và nghiên cứu hệ thống chỉ huy quân đội của nước ngoài, thế trận dàn quân của các đơn vị và huấn luyện tác chiến.

PLA đang tích cực đẩy mạnh tham gia các cuộc diễn tập quân sự song phương và đa phương. PLA sẽ hưởng nhiều lợi ích chính trị từ các cuộc tập trận này, thông qua gia tăng ảnh hưởng và cải thiện mối quan hệ đối tác với Mỹ và các tổ chức. Những bài tập này cũng góp phần hiện đại hóa quân đội Trung Quốc bằng cách tạo cơ hội nâng cao năng lực trong các lĩnh vực chống khủng bố, tác chiến di động và kỹ thuật hậu cần.

PLA sẽ gia tăng hiểu biết sâu sắc về hoạt động tác chiến bằng cách quan sát các chiến thuật dàn trận, việc ra quyết định chỉ huy và kiểm soát, và các trang thiết bị đang được các quân đội hiện đại hơn sử dụng.

PLA đang đẩy mạnh tham gia các cuộc diễn tập quân sự song phương và đa phương với các nước. Nhờ vào các cuộc tập trận chung này, PLA sẽ gia tăng hiểu biết về hoạt động tác chiến bằng cách quan sát các chiến thuật dàn trận, việc ra quyết định chỉ huy và kiểm soát, và các trang thiết bị đang được các quân đội sử dụng.

Việc tham gia hoặc đứng ở vị thế quan sát viên của PLA trong các cuộc huấn luyện và diễn tập quân sự với Mỹ hoặc các quốc gia sở hữu các trang thiết bị, hệ thống và vũ khí quân sự của Mỹ, được giám sát bởi Văn phòng Bộ trưởng Quốc phòng nhằm đảm bảo nghiêm ngặt việc tuân thủ pháp luật của Mỹ liên quan đến việc chuyển giao hoặc tiết lộ các bài báo về quốc phòng có nguồn gốc từ Mỹ, các cơ quan quốc phòng, dữ liệu kỹ thuật, và công nghệ cho Trung Quốc.

Khi các lợi ích trong khu vực và quốc tế của Trung Quốc trở nên phức tạp hơn, sự hiện diện trên trường quốc tế của PLA sẽ gia tăng, đặc biệt là trong các khu vực triển khai hoạt động gìn giữ hòa bình, chống cướp biển, hỗ trợ nhân đạo/cứu trợ thiên tai và các cuộc tập trận chung.

Trường Cao đẳng Nghiên cứu Quốc phòng cấp chiến lược tại Đại học Quốc phòng Quốc gia Trung Quốc ở Bắc Kinh luôn chào đón những cán bộ nghiên cứu đến từ hầu hết các nước Mỹ La-tinh và Caribbean đang công nhận ngoại giao với Trung Quốc, và một số quốc gia này cũng gửi nhân viên đến các trường Chỉ huy Hải quân PLA và PLA tại Nam Kinh.

Ngoài việc đẩy mạnh hiện đại hóa PLA, trọng tâm của những cam kết này vẫn là duy trì xây dựng mối quan hệ chính trị của Trung Quốc, xoa dịu những mối lo ngại về sự trỗi dậy của Trung Quốc và thiết lập tầm ảnh hưởng quốc tế của Trung Quốc, đặc biệt là ở Châu Á và Mỹ La-tinh.

Những tranh chấp lãnh thổ của Trung Quốc

Việc sử dụng vũ lực trong các tranh chấp lãnh thổ của Trung Quốc, cả trên đất liền và trên biển, biến hóa không ngừng trong suốt các giai đoạn lịch sử. Một số tranh chấp dẫn đến xung đột vũ trang, chẳng hạn như các cuộc xung đột biên giới của Trung Quốc với Ấn Độ vào năm 1962, và Việt Nam vào năm 1979. Một vụ tranh chấp biên giới với Liên Xô cũ trong những năm 1960 cũng làm dấy lên khả năng nổ ra chiến tranh hạt nhân.

Trong những sự kiện gần đây, Trung Quốc sẵn sàng thỏa hiệp và thậm chí nhượng bộ đối với các nước láng giềng. Từ năm 1998, Trung Quốc đã dàn xếp 11 vụ tranh chấp lãnh thổ trên đất liền với 6 nước láng giềng. Trong khu vực ngoại vi hàng hải của Trung Quốc, những căng thẳng tiếp tục diễn ra tại các vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và quyền sở hữu các mỏ dầu và khí đốt trữ lượng tiềm năng phong phú ở ngoài khơi.

Biển Hoa Đông có khoảng 7 nghìn tỷ feet khối khí đốt tự nhiên và lên đến 100 tỷ thùng dầu. Nhật Bản cho rằng, một ranh giới cách đều mỗi quốc gia sẽ tách bạch các vùng đặc quyền kinh tế, trong khi Trung Quốc tuyên bố thềm lục địa mở rộng vượt ra ngoài các đường ranh giới cách đều và vươn đến Okinawa Trench (gần như đến gần bờ biển của Nhật Bản).

Vào đầu năm 2009, Nhật Bản cáo buộc Trung Quốc vi phạm thỏa thuận khai thác chung các mỏ dầu và khí tự nhiên được ký kết hồi tháng 06/2008, đồng thời tuyên bố rằng Trung Quốc đơn phương khoan dầu dưới đường ranh giới nhằm rút các nguồn năng lượng dự trữ từ phía Nhật Bản. Trung Quốc tiếp tục tranh cãi về những kiểm soát hành chính của Nhật Bản trên quần đảo Senkaku ở phía Nam.

Biển Đông đóng vai trò quan trọng trong những cam kết an ninh trong khu vực Đông Nam Á và Đông Bắc Á. Đông Bắc Á chủ yếu dựa vào lượng dầu trong các đường ống dẫn và ngành thương mại thông qua các tuyến đường hàng hải trên Biển Đông, vận chuyển hơn 80% lượng dầu thô sang Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan.

Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa và các khu lãnh thổ khác trong phạm vi yêu sách “đường chín đoạn” (yêu sách gây tranh cãi của quốc gia này về những tranh chấp toàn bộ hay một phần lãnh hải của Brunei, Philippines, Malaysia, Indonesia và Việt Nam). Đài Loan, đang chiếm đóng đảo Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa, cũng có những yêu sách tương tự như Trung Quốc.

Trong năm 2009, Trung Quốc đã phản đối các yêu sách về thềm lục địa được mở rộng trong Biển Đông của Malaysia và Việt Nam. Trong phản đối trình lên Ủy ban Liên Hiệp Quốc, Trung Quốc đã công bố khái niệm “đường chín đoạn” một cách nhập nhằng, đồng thời tái khẳng định “chủ quyền không thể tranh cãi đối với các hòn đảo ở Biển Đông và các vùng biển lân cận, cũng như chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển nước tương ứng cũng như đáy biển và tầng đất cát ở đó”.

Bất chấp những cải thiện trong mối quan hệ chính trị và kinh tế giữa Trung Quốc và Ấn Độ, những căng thẳng vẫn đang diễn ra trên 4.057 km đường biên giới chung giữa hai nước, đáng chú ý nhất là bang Arunachal Pradesh (mà Trung Quốc vẫn khẳng định là một phần của Tây Tạng, do đó cũng của Trung Quốc), và khu vực Aksai Chin ở phía cực Tây của Cao nguyên Tây Tạng.

Các khu vực "yêu sách" chủ quyền của Trung Quốc

Các khu vực "yêu sách" chủ quyền của Trung Quốc

Trong năm 2009, Trung Quốc và Ấn Độ tuyên bố sẽ thiết lập một đường dây nóng giữa các Thủ tướng sau những trao đổi liên tiếp về tình hình khu vực biên giới Arunachal Pradesh. Tuy nhiên, đến năm 2011, nỗ lực này vẫn chưa được thực hiện khi Ấn Độ báo cáo về những sự cố trong việc triển khai công nghệ mã hóa thích hợp để thiết lập đường dây nóng.

Các quan chức Trung Quốc và Ấn Độ đã gặp nhau vào cuối tháng 09/2013 để hoàn thành nội dung Hiệp định Hợp tác Phòng thủ Biên giới, trong đó bổ sung các thủ tục hiện hành nhằm quản lý sự tương tác của quân đội dọc theo Đường Kiểm soát Thực tế.

Ban biên tập

Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về banbientap@nguyentandung.org
Thích và chia sẻ bài này trên