Chủ đề

(An Ninh Quốc Phòng) - Tiếp theo loạt bài trong báo cáo dài 96 trang được Bộ Quốc phòng Mỹ trình lên Quốc hội nước này mang tên “Các diễn biến quân sự của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa 2014”, Ban biên tập xin giới thiệu bạn đọc chi tiết nội dung “Chương 2: Chiến lược của Trung Quốc”. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi sẽ trình bày một số nhân tố định hình nhận thức của các nhà lãnh đạo Trung Quốc trong giai đoạn hiện nay.

Chương 2: Chiến lược của Trung Quốc (tiếp theo)

Kể từ khi nhận chức, thế hệ lãnh đạo mới của Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Tập Cận Bình tiếp tục chịu trách nhiệm vận hành “giai đoạn cơ hội chiến lược” nhằm thúc đẩy các ưu tiên phát triển kinh tế, toàn vẹn lãnh thổ và ổn định trong nước.

Mục lục
[ẩn]

CÁC NHÂN TỐ ĐỊNH HÌNH NHẬN THỨC CỦA LÃNH ĐẠO TRUNG QUỐC

Kể từ sau sự kiện chuyển giao lãnh đạo Trung Quốc duy nhất trong vòng một thập kỷ, cũng như Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ XVIII diễn ra vào mùa Thu 2012 và Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc vào mùa Xuân 2013, nhà lãnh đạo mới của Trung Quốc – ông Tập Cận Bình đã đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo Đảng, Nhà nước và quân đội thay thế cho người tiền nhiệm Hồ Cẩm Đào. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng đề cử một Thủ tướng và Bộ trưởng Quốc phòng mới.

Thế hệ lãnh đạo mới của Trung Quốc tiếp tục nhận trách nhiệm vận hành một “giai đoạn cơ hội chiến lược” nhằm thúc đẩy các ưu tiên phát triển kinh tế, toàn vẹn lãnh thổ và ổn định trong nước. Mặc dù có cái nhìn tích cực đối với môi trường chiến lược của Trung Quốc, các tài liệu chính thức đã chỉ ra rằng quốc gia  này đánh giá môi trường an ninh đang ngày càng trở nên phức tạp, đây là kết quả của một số nhân tố mới nổi bao gồm:

Kinh tế. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc tin rằng sự phát triển kinh tế mạnh mẽ và liên tục vẫn là nền tảng cho sự ổn định xã hội. Một loạt yếu tố kinh tế có thể phá vỡ quỹ đạo này, bao gồm thất bại trong việc đưa Trung Quốc thoát khỏi sự dựa dẫm thái quá vào đầu tư và xuất khẩu nhằm thúc đẩy tăng trưởng.

Các lãnh đạo Trung Quốc đang thu nhỏ mục tiêu Tổng Sản phẩm Quốc nội (GDP) cho giai đoạn 2011-2015 để giảm thiểu rủi ro tăng trưởng quá nóng của nền kinh tế và quản lý các kỳ vọng.

Rủi ro kinh tế tiềm năng khác đối với Trung Quốc chính là sự dịch chuyển của các mô hình thương mại toàn cầu, những hạn chế của các nguồn lực trong nước, tiền lương tăng do thiếu hụt nhân công và việc cắt giảm đối với các nguồn lực toàn cầu, như năng lượng.

Trung Quốc đang thử nghiệm một khu vực thương mại tự do mới tại Thượng Hải, và cải cách cơ cấu bổ sung cho nền kinh tế Trung Quốc được công bố tại Hội nghị Trung ương lần ba của ĐCSTQ trong tháng 11/2013.

Chủ nghĩa dân tộc. Các nhà lãnh đạo ĐCSTQ và quan chức quân sự tiếp tục khai thác chủ nghĩa dân tộc để củng cố tính hợp pháp của Đảng, làm chệch hướng những lời chỉ trích trong nước và biện minh cho sự thiếu linh hoạt của Đảng trong các cuộc đối thoại với nước ngoài. Tuy nhiên, chủ nghĩa dân tộc cũng hạn chế việc ra quyết định của các lãnh đạo về các vấn đề chính sách quan trọng, đặc biệt là liên quan đến chính sách an ninh đối ngoại.

Những thách thức trong khu vực đối với lợi ích Trung Quốc. Những căng thẳng đang diễn ra với Nhật Bản trên Biển Hoa Đông và với một số quốc gia Đông Nam Á trên Biển Đông đang làm phức tạp mong muốn của Trung Quốc đối với việc duy trì một khu vực ngoại vi ổn định.

Kết hợp với sự hiện diện ngày càng gia tăng của Mỹ trong khu vực, những nhân tố này đã làm gia tăng mối quan tâm của Trung Quốc về việc các nước trong khu vực sẽ tăng cường sức mạnh quân sự hoặc tăng cường hợp tác an ninh với Mỹ để đối trọng với Trung Quốc.

Tình trạng bất ổn trong nước. ĐCSTQ tiếp tục đối mặt với những nhu cầu phổ biến dài hạn trong việc ngăn chặn nạn tham nhũng và cải thiện khả năng đáp ứng của chính phủ đối với nhu cầu của người dân, cũng như tính minh bạch và độ tin cậy của mình.

Những yêu cầu này nếu không được đáp ứng có thể đe dọa quyền lực hợp pháp của ĐCSTQ. Kết quả là, một chiến dịch chống tham nhũng cấp quốc gia đang được tiến hành nhằm giải quyết mối quan tâm này của công chúng.

Môi trường. Phát triển kinh tế của Trung Quốc đã dẫn đến những thiệt hại lớn về môi trường sinh thái. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc đang ngày càng lo ngại rằng, suy thoái môi trường có thể làm suy yếu tính hợp pháp của chế độ bằng việc đe dọa phát triển kinh tế, sức khỏe cộng đồng, ổn định xã hội và hình ảnh trên trường quốc tế của Trung Quốc.

Nhân khẩu học. Trung Quốc phải đối mặt với mối đe dọa kép trong việc dân số già đi nhanh chóng và tỷ lệ sinh đang suy giảm dưới mức sinh thay thế. Tuổi thọ dài hơn buộc Trung Quốc phải phân bổ thêm nguồn lực cho các dịch vụ xã hội và chăm sóc y tế, trong khi tỷ lệ sinh suy giảm sẽ làm giảm nguồn cung cấp lực lượng lao động trẻ và giá rẻ cho Trung Quốc, vốn được xem là động lực tăng trưởng kinh tế chính trong ba thập kỷ của nước này. Mối đe dọa kép này có thể dẫn đến tình trạng trì trệ kinh tế và đe dọa tính hợp pháp của ĐCSTQ.

Chiến lược Năng lượng của Trung Quốc

Những cam kết, đầu tư và xây dựng nước ngoài liên quan đến năng lượng của Trung Quốc vẫn tiếp tục gia tăng. Trung Quốc đã tham gia xây dựng hoặc đầu tư các dự án năng lượng tại hơn 50 quốc gia ở gần như mọi châu lục.

Sự đầu tư đầy tham vọng vào các cơ sở hạ tầng năng lượng được thúc đẩy chủ yếu bởi hai nhân tố. Đầu tiên, Trung Quốc đang ngày càng phụ thuộc vào nguồn năng lượng nhập khẩu để duy trì phát triển nền kinh tế. Cho đến năm 1993, trong vai trò là một nhà xuất khẩu dầu thô, Trung Quốc vẫn mù mờ về các thị trường năng lượng quốc tế. Thứ hai, các dự án năng lượng thể hiện một lựa chọn khả thi cho việc đầu tư thu ngoại tệ khổng lồ của Trung Quốc.

Ngoài việc đảm bảo nguồn năng lượng đáng tin cậy, Trung Quốc hy vọng sẽ đa dạng hóa nhà sản xuất và lựa chọn phương tiện vận chuyển. Mặc dù độc lập về nguồn năng lượng không thể trở thành hiện thực đối với Trung Quốc trong bối cảnh sự tăng trưởng dân số và gia tăng tiêu thụ năng lượng bình quân đầu người, Trung Quốc vẫn tìm cách duy trì chuỗi cung ứng ít nhạy cảm với những gián đoạn có nguồn gốc từ bên ngoài.

Trong năm 2012, Trung Quốc nhập khẩu khoảng 60% lượng dầu tiêu thụ; những nhà bảo thủ đưa ra ước tính rằng, Trung Quốc sẽ nhập khẩu gần 2/3 lượng dầu nước này vào năm 2015 và 3/4 vào năm 2030. Quốc gia này chủ yếu dựa vào Vịnh Ba Tư, Châu Phi và Nga/Trung Á để đáp ứng nhu cầu ngày càng gia tăng của mình, với ước tính nhập khẩu dầu chiếm khoảng 11% tổng lượng tiêu thụ năng lượng của Trung Quốc.

Mục tiêu thứ hai của chiến lược năng lượng từ nước ngoài của Trung Quốc là giảm nhẹ sự phụ thuộc nặng nề của Trung Quốc vào các Tuyến đường Vận tải Biển (SLOCs), đặc biệt là trên Biển Đông và eo biển Malacca.

Trong năm 2012, khoảng 84% lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc quá cảnh qua Biển Đông và eo biển Malacca. Các đường ống dẫn dầu thô riêng biệt từ Nga và Kazakhstan sang Trung Quốc đã minh họa những nỗ lực gia tăng cung cấp qua tuyến đường bộ.

Trong năm 2013, công ty dầu mỏ Trung Quốc và Nga đã đi vào giai đoạn cuối của cuộc đàm phán nhằm tăng gấp đôi công suất đường ống dẫn dầu thô từ Nga sang Trung Quốc từ 300.000 thùng mỗi ngày lên 600.000 thùng/ngày.

Bản đồ các tuyến đường nhập khẩu dầu mỏ của Trung Quốc

Bản đồ các tuyến đường nhập khẩu dầu mỏ của Trung Quốc

Một đường ống dẫn dầu khác sẽ không đi qua eo biển Malacca mà vận chuyển dầu thô từ Kyuakpya, Miến Điện đến Côn Minh, Trung Quốc, được hoàn thành vào năm 2013 và dự kiến sẽ đi vào hoạt động từ năm 2014. Dầu thô của tuyến đường ống mới này sẽ được cung cấp bởi Saudi Arabia và các các nước khác ở Trung Đông và châu Phi.

Đối với nhu cầu năng lượng ngày càng gia tăng của Trung Quốc, các đường ống mới sẽ giúp giảm bớt sự phụ thuộc hàng hải của Trung Quốc không chỉ trên eo biển Malacca mà còn eo biển Hormuz.

Bất chấp những nỗ lực của Trung Quốc, số lượng dầu và khí tự nhiên hóa lỏng khổng lồ được nhập khẩu vào Trung Quốc từ Trung Đông và Châu Phi sẽ khiến cho các tuyến đường hàng hải chiến lược này ngày càng quan trọng hơn đối với Trung Quốc.

Trong năm 2012, Trung Quốc nhập khẩu 21,3 tỷ mét khối (bcm) khí đốt tự nhiên, chiếm 51% lượng nhập khẩu khí đốt tự nhiên của quốc gia này từ Turkmenistan sang Trung Quốc bằng đường ống dẫn thông qua Kazakhstan và Uzbekistan. Đường ống này được thiết kế để vận chuyển 40 bcm mỗi năm và đang có kế hoạch mở rộng lên đến 60 bcm.

Một đường ống dẫn khí tự nhiên khác được thiết kế để cung cấp 12 bcm khí đốt mỗi năm do Miến Điện sản xuất được hoàn thành vào năm 2013 và dự kiến đi vào hoạt động từ năm 2014. Đường ống dẫn này song song với đường ống dẫn dầu thô qua Miến Điện.

Trung Quốc đang trong giai đoạn cuối của cuộc đàm phán với Nga để đưa hai đường ống dẫn đi vào hoạt động, cung cấp cho Trung Quốc lên đến 68 bcm khí đốt mỗi năm. Trong năm 2012, Trung Quốc đã nhập khẩu khoảng 25% nguồn cung  khí đốt của mình.

Các nhà cung cấp dầu thô hàng đầu của Trung Quốc

Các nhà cung cấp dầu thô hàng đầu của Trung Quốc

Ban biên tập

Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về banbientap@nguyentandung.org
Thích và chia sẻ bài này trên