Việt Nam khác các nước khác ở chỗ vừa có sông vừa có biển. Nhiều nước trên thế giới thèm có biển mà không có. Biển liên quan đến cuộc sống của toàn dân. Biển không chỉ có muối, không chỉ có hải sản, tiềm năng biển còn rất lớn. Và văn hóa biển không phải chỉ là thơ ca nhạc họa ca ngợi biển. Biển rộng lớn vô cùng nhưng hiểu biết về biển và việc đầu tư để khai thác nguồn lợi từ biển thì còn quá thấp – GS.NGND Nguyễn Lân Dũng.

Văn hóa biển chính là biết bảo vệ biển và khai thác biển
GS.NGND Nguyễn Lân Dũng, Ủy viên Ủy ban TƯMTTQ Việt Nam, nguyên Đại biểu Quốc hội nhiều khóa – đưa ra khái niệm “canh tác biển” trong cuộc trò chuyện về Luật Biển Việt Nam với những trăn trở về khai thác tiềm năng biển để một ngày không xa đất nước ta có thể trở thành một cường quốc biển.
Làm sao để thông tin xác thực và công bằng đến với nhân dân nước bạn
- Thưa Giáo sư, là một quốc gia trải dài theo bờ biển, từ thuở hồng hoang tổ tiên chúng ta đã gắn bó với biển khơi. Vì vậy có thể nói Luật Biển Việt Nam ra đời là khát vọng và ý chí của toàn thể dân tộc Việt Nam. Lần đầu tiên Việt Nam có một văn bản luật quy định đầy đủ cơ sở pháp lý các vùng biển, đảo thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền theo đúng Công ước Luật Biển năm 1982. Ông đánh giá thế nào về tính thời đại và thời điểm của việc ra đời Luật Biển?
GS.NGND Nguyễn Lân Dũng: Việt Nam khác các nước khác ở chỗ vừa có sông vừa có biển. Nhiều nước trên thế giới thèm có biển mà không có. Biển của mình rất dài, tới 3260 km, với vùng biển rộng đến hơn 1 triệu km2 (gấp 3 lần diện tích đất liền), lại có tới trên 3000 hòn đảo lớn nhỏ. Biển liên quan đến cuộc sống của toàn nhân dân. Biển không chỉ có muối, không chỉ có hải sản, tiềm năng biển còn rất lớn. Trên thế giới, các quốc gia ven biển đều ban hành Luật Biển. Là một quốc gia biển, đến thời điểm này chúng ta mới ban hành Luật Biển không phải là sớm. Nhưng muộn còn hơn không.
Luật Biển ra đời củng cố thêm cơ sở pháp lý về chủ quyền lãnh hải Việt Nam. Lâu nay rất tiếc vẫn có người cố tình hiểu sai lệch là Việt Nam đang khai thác tài nguyên trên vùng biển của người khác. Quốc tế có những nguyên tắc về thềm lục địa, nguyên tắc về lãnh hải, không ai có thể thay đổi được. Gần đây chúng ta tìm được bản đồ từ thời nhà Thanh mà ở đó phía nam Trung Quốc chỉ đến đảo Hải Nam. Tiếp đó lại có thêm nhiều bản đồ khác đã được tìm thấy cũng chứng minh điều này, mà đâu phải do chúng ta làm ra .Vấn đề hiện nay là làm sao cho nhân dân hai nước hiểu nhau, tôn trọng nhau, vui vẻ sống bên nhau. Chúng ta phải tin ở chính nghĩa và tin ở sự sáng suốt của nhân dân thế giới cũng như các học giả trên thế giới . Tất nhiên chúng ta là một nước nhỏ đứng cạnh một nước lớn. Khó khăn nữa là nhân dân bạn không dễ dàng tiếp nhận thông tin một cách khách quan. Chúng ta đã cố gắng có nhiều kênh tiếng Hoa trên Đài tiếng nói Việt Nam, trên kênh Thông tấn xã, trên VTV và gần đây Liên hiệp các tổ chức hữu nghị cũng đã được phép xuất bản Bản tin bằng tiếng Hoa. Nhưng làm sao để các thông tin xác thực và công bằng đến được với mọi người dân nước bạn? Công lao của Bác Hồ xây dựng tình hữu nghị với nhân dân Trung Hoa là rất lớn. Tôi là người nhiều năm học tập tại Khu học xá Trung ương (Nam Ninh, Quảng Tây) và hiện nay vẫn thường xuyên làm việc với các học giả Trung Quốc. Tôi biết nhân dân Trung Quốc cũng như nhân dân mọi nước khác đều mong muốn có cuộc sống yên bình, để đất nước phát triển, và để có cuộc sống ngày càng hạnh phúc.
Văn hóa biển chính là biết bảo vệ và khai thác biển
Thưa Giáo sư, nhưng nói đến Luật Biển không phải chỉ là vấn đề chủ quyền lãnh hải. Mà với một quốc gia biển, cộng đồng dân cư biển sinh sống rất đông như ở Việt Nam thì nhìn ở góc độ lịch sử và văn hóa, ông thấy Luật Biển mới được ban hành có ý nghĩa như thế nào trong việc bảo tồn và phát huy văn hóa biển?
- Với đặc điểm bờ biển trải dài tới hơn 3260 km, các tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương ven biển chiếm diện tích đến 208 560 km2 (51% so với diện tích cả nước) với số dân lên tới 41,2 triệu người (gần bằng một nửa dân số cả nước). Văn hóa biển không phải chỉ là thơ ca nhạc họa ca ngợi biển. Mà cái chính là biết bảo vệ biển và khai thác biển. Chúng ta đừng quên ven biển nước ta có tới gần 6 triệu ha đất nông nghiệp, khoảng 1,8 triệu ha đất lâm nghiệp. Diện tích rừng ngập mặn rộng tới 250.000 ha, ngoài ra còn có tới 290.000 ha bãi triều và hàng vạn ha vùng cát dọc ven biển miền Trung. Tính đến hết năm 2008 chúng ta có đến trên 30.000 cơ sở nuôi trồng thủy sản ven biển và thu về một nguồn lợi rất lớn , vừa để phục vụ nhu cầu trong nước, vừa để xuất khẩu. Khai thác hải sản đã góp tới 3 tỷ USD trong tổng giá trị xuất khẩu (2008) và tạo việc làm cho tới hơn 1 triệu lao động. Tuy nhiên nước thải khu vực ven biển đã chiếm đến 1/4 tổng lượng nước thải trong cả nước. Công nghiệp khai thác than, khoáng sản, dầu mỏ, và hoạt động hàng hải cũng đã và đang góp phần không nhỏ vào việc làm ô nhiễm biển. Từ năm 1989 đến nay đã có tới hơn 100 vụ tràn dầu với số lượng tới hàng trăm tấn dầu. Dầu loang trên mặt biển cùng với ô nhiễm chất thải đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến các hệ sinh thái biển và ven biển. Diện tích rừng ngập mặn đang giảm sút với tốc độ tới khoảng 2670 ha/năm, do khai hoang và khoanh bao làm đầm nuôi thủy sản. Các rạn san hô bị tàn phá nghiêm trọng cũng góp phần làm xấu đi môi trường sống của các sinh vật biển vốn rất đa dạng trước đây… Văn hóa biển trước hết phải là văn hóa bảo vệ nguồn lợi biển. Mà muốn bảo vệ cần phải có phải có sự đầu tư thỏa đáng và có kế hoạch tuyên truyền cũng như giám sát nghiêm ngặt.
Tiềm năng biển còn rất lớn
- Thưa Giáo sư, ý ông là chúng ta không thể chỉ khai thác nguồn lợi từ biển mà phải biết đầu tư để đem lại nguồn lợi. Và tiềm năng từ biển còn rất lớn?
- Không có biển thì không có muối để ăn, không có các loại hải sản để vừa ăn vừa xuất khẩu, không có nguồn dầu lửa và khí thiên nhiên…Những lợi ích hiển nhiên ấy ai cũng biết. Nhưng nguồn lợi từ biển không chỉ có vậy. Biển liên quan đến giao lưu hàng hải với thế giới. Bây giờ chúng ta giao lưu với tất cả các nước theo tinh thần Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước thì đường hàng hải thuận tiện rất nhiều. Biển Đông rộng đến 3,4 triệu km2, là con đường giao lưu thương mại quốc tế nối liền Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương và nhiều vùng biển khác. Thử hình dung nếu không có đường giao thương hàng hải thì công việc xuất khẩu nông sản phẩm, hải sản, hàng may mặc, da giầy, khoáng sản.. sẽ khó khăn biết bao.
Ngoài ra còn cần lưu ý Việt Nam là một trong 5 nước có nguy cơ chịu ảnh hưởng lớn nhất thế giới về biến đổi khí hậu. Tôi nghe nói chúng ta đang nghiên cứu một kế hoạch xây dựng hệ thống đê lớn dọc bờ biển, bên ngoài dự kiến trồng cây chắn sóng. Không hiểu dự án này bao giờ được khởi công? Chúng ta có hai châu thổ lớn của sông Hồng và sông Cửu Long. Nếu nước biển dâng, đồng bằng sông Cửu Long sẽ có một phần bị ngập, nếu không ngập thì cũng bị mặn hóa, ảnh hưởng đến sản lượng thóc gạo, một ưu thế lớn của nước ta. Phải lường trước lúc nào đó dân số nước ta sẽ lên đến 100 triệu người. Nếu không bảo vệ được hai châu thổ này thì không thể là nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới mà có khi còn phải… nhập gạo (!). Cũng nghe nói nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã từng chuẩn bị sang Hà Lan để học tập kinh nghiệm đắp đê nổi tiếng thế giới. Rất tiếc ông đã ra đi trước khi thực hiện được công việc hệ trọng này.
Bờ biển của chúng ta không bị xói mòn mà còn tăng thêm diện tích hàng năm bởi sự bồi đắp của phù sa. Ngoài ra, chúng ta còn có những đảo lớn như Côn Đảo, Phú Quốc, Cái Bầu, Cát Bà…Đó là những nơi chúng ta có thể phát triển được du lịch và luân chuyển quốc tế các loại hàng hóa. Phú Quốc rộng tới 583 km2, tính đa dạng sinh học và nguồn nước ngọt hơn hẳn Singapore. Nếu biết khai thác và bảo vệ tốt biết đâu không trở thành một trung tâm quốc tế về du lịch?
Bờ biển còn là nơi nhiều gió. Ven biển trong tương lai sẽ là nguồn phát triển năng lượng tái tạo nhờ gió (phong điện). Rồi còn nguồn năng lượng mặt trời (quang điện) và còn có thể phát huy cả năng lượng thủy triều nữa.
Canh tác biển
- Vâng, có một câu hỏi luôn trăn trở với rất nhiều người Việt Nam là vì sao đất nước tiềm năng biển rất lớn nhưng vẫn chưa thể trở thành một cường quốc biển. Nhiều năm trước, chúng ta cứ nhắc đến các làng chài ven biển là nhắc đến một sự đói nghèo xơ xác. Thưa Giáo sư, ông hẳn cũng có chung nỗi trăn trở ấy?
- Chúng ta đã không thành công trong việc đánh bắt xa bờ. Trong khi hải sản đánh bắt ven bờ đã cạn kiệt. Hơn nữa con em ngư dân nhiều nơi còn bị thất học. Khi đã thất học thì tương lai của chúng làm sao sáng sủa được. Lại tiếp tục phải ra khơi với biết bao hiểm nguy như các thế hệ cha ông. Biển rộng lớn vô cùng nhưng hiểu biết về biển và việc đầu tư để khai thác nguồn lợi từ biển thì còn quá thấp. Nhiều Việt kiều nói với tôi là chúng ta có khả năng đóng thuyền tốt nhưng chúng ta thiếu thiết bị làm nước đá từ nước biển. Cứ hết nước đá lại phải vào bờ thì làm sao có thể đánh bắt được xa bờ. Lại còn có người xui dại ngư dân là ướp cá bằng urê. Urê có thể làm tăng độ kiềm lên rất cao cho nên có thể làm cá không bị ươn vì vi khuẩn phá hủy. Nhưng urê có chứa thiurea, một chất độc rất có hại và không thể chấp nhận được.
Ngoài ra hiện nay người ta đang phát triển công nghệ sinh học biển, không phải chỉ để khai thác tài nguyên từ biển (kể cả vi sinh vật biển) mà còn để “canh tác biển”. Đây là khái niệm mới và nhiều nước đã thành công. Người ta “đánh luống”, bằng cách chăng dây rồi lấy mầm tảo biển mắc vào dây. Dinh dưỡng của biển tự nuôi những mầm tảo lớn lên. Lúc thu hoạch chỉ việc dùng cáp kéo dây thép lên là thu hoạch được tảo, một nguồn thực phẩm vừa giàu protein, vitamin và còn không ít các nguyên tố vi lượng quý giá.
Kinh tế biển không chỉ ở ngoài biển mà cả trong đất liền, vùng ven biển. Chúng ta nên thay đổi tập quán canh tác. Đi qua những cánh đồng lúa miền Trung nhiều nơi tôi có cảm tưởng như chân hương cắm trên cát. Làm sao có thể cho năng suất cao được. Tại sao không xây dựng thành các khu công nghiệp mà lại đi biến các “bờ xôi ruộng mật” ven các quốc lộ, tỉnh lộ thành các khu công nghiệp, các khu chế xuất…. Khi tôi là Đại biểu Quốc hội tôi đã nói :Ai không hiểu khái niệm “cấu tượng” (đất có độ phì nhiêu do vi sinh vật tích lũy chất mùn hàng trăm năm để đất có hạt vừa phải, tạo ra các khe nhỏ chứa nước, thức ăn, không khí, khác hẳn với đất cát và đất sét không có độ phì nhiêu) thì đừng làm nhà lãnh đạo địa phương (!) Tôi rất tâm đắc với câu các bạn nước ngoài nói: Muốn làm giàu trước hết phải làm đường. Vậy thì chúng ta phải làm đường nối được các vùng không có cấu tượng ra các cảng biển, để rồi kêu gọi các nhà đầu tư đến đó lập nghiệp với giá đất rẻ hơn nhiều so với các vùng đất có cấu tượng.
Xin trân trọng cảm ơn Giáo sư!
Theo (ĐĐK)

