Chủ đề

(Kinh tế) - Ban biên tập xin gửi đến bạn đọc bài phát biểu của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân tại Hội nghị Tương lai châu Á lần thứ 19 được tổ chức tại Tokyo, Nhật Bản, với chủ đề: “Châu Á tìm kiếm biện pháp tăng cường liên kết và hội nhập”.

BÀI PHÁT BIỂU CỦA PHÓ THỦ TƯỚNG NGUYỄN THIỆN NHÂN TẠI HỘI NGHỊ TƯƠNG LAI CHÂU Á LẦN THỨ 19
(Tokyo, ngày 23 tháng 5 năm 2013)

Thưa các Ngài Thủ tướng,
Thưa Ngài Chủ tịch,
Thưa Quý vị đại biểu,

Tôi rất vui mừng tham dự Hội nghị Tương lai Châu Á lần thứ 19 với chủ đề: “Châu Á tìm kiếm biện pháp tăng cường liên kết và hội nhập”. Đây là một chủ đề rất phù hợp với mối quan tâm chung của các nước Châu Á hiện nay, đó là tăng cường hợp tác và liên kết nhằm thúc đẩy hợp tác, vì lợi ích của mỗi quốc gia, lợi ích chung của khu vực và toàn cầu.

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân phát biểu tại Hội nghị Tương lai châu Á lần thứ 19, chiều 23/5.

Tôi cảm ơn báo Nikkei đã dành cho tôi cơ hội phát biểu tại diễn đàn uy tín này để chia sẻ với Quý vị một số suy nghĩ về cách thức hợp tác để xây dựng một tương lai tốt đẹp cho châu lục của chúng ta trong thế giới hội nhập.

Thưa Quý vị,

Tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến động nhanh và khó lường. Ngày càng xuất hiện nhiều vấn đề mới cũng như cơ hội mới ảnh hưởng đến tương lai của khu vực chúng ta cũng như tới tương lai chung của cả thế giới. Các vấn đề và cơ hội đó không chỉ giới hạn trong các lĩnh vực truyền thống như kinh tế, chính trị, quân sự… mà đã mở ra trong các lĩnh vực phi truyền thống như ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, khai thác nguồn nước, an ninh mạng, an ninh, an toàn hàng hải… và đòi hỏi chúng ta có những cách tiếp cận, những ý tưởng mới về liên kết và hội nhập.

Nhiều người cho rằng tăng trưởng năng động là đặc trưng của các nền kinh tế Châu Á. Điều đó đúng, song chưa làm rõ nguyên nhân. Theo tôi, việc tăng trưởng tương đối dài, sự năng động của nhiều nền kinh tế Châu Á bắt nguồn từ năm yếu tố: động lực của thị trường trong nước và thế giới, sự hợp tác và liên kết giữa các quốc gia như là chính sách nền tảng của các chính phủ, sự gần gũi tương đồng về văn hóa, sự gần gũi về địa lý và vai trò của Chính phủ trong sứ mạng quản lý kinh tế quốc gia. Trong bối cảnh chung toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, mặc dù trình độ phát triển kinh tế của các nước là như nhau, song các nước Châu Á đã sớm dành ưu tiên cho hợp tác và liên kết.
Thực tiễn tại Châu Á cho chúng ta thấy sự hợp tác giữa các quốc gia chỉ có thể và bền vững khi lợi ích của một quốc gia là cùng hướng với lợi ích của các quốc gia khác cũng như lợi ích chung của cả khu vực.

Tham gia vào các cơ chế hợp tác khu vực chính là một cách để xây dựng lòng tin, qua đó giúp giảm bớt nguy cơ xung đột. Thực tiễn cho thấy trong quan hệ giữa các quốc gia, “lòng tin” và “hợp tác” là hai phạm trù gắn bó chặt chẽ. Nếu như “lòng tin” là tiền đề cho “hợp tác” thì ngược lại, “hợp tác” là cách để xây dựng, củng cố “lòng tin”; mức độ hợp tác và tin cậy càng cao thì nguy cơ xung đột càng thấp và càng có lợi cho sự phát triển của mỗi quốc gia cũng như của cả khu vực. Chính vì vậy, Việt Nam luôn tham gia một cách tích cực và có trách nhiệm vào các khuôn khổ hợp tác, liên kết trong khu vực.

Sự hợp tác giữa các nước qua hoạt động của Chính phủ, dựa trên sự tin cậy chính trị, vừa có vai trò thúc đẩy và hiện thực hóa các cơ hội kinh tế theo tín hiệu thị trường, vừa tạo sự phối hợp trên các lĩnh vực phi kinh tế như: chính trị, biến đổi khí hậu, giáo dục đào tạo, y tế, khoa học công nghệ, quốc phòng, an toàn giao thông, an ninh mạng, chống khủng bố, giao lưu văn hóa…

Thưa Quý vị,

Ở Việt Nam có thành ngữ “một cây làm chẳng lên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”. Ngụ ý ở đây là sự đoàn kết và hợp tác luôn làm nên sức mạnh.
Ở cấp độ khu vực, để vượt qua những thách thức to lớn và phát huy các tiềm năng, tôi cho rằng chúng ta cần nỗ lực hợp tác, liên kết theo các hướng sau:

Một là, củng cố, phát huy các cơ chế hợp tác sẵn có chính từ nội bộ ASEAN; giữa ASEAN và các nước khác như Nhật, Mỹ, Nga, Trung Quốc…, giữa các thành viên ASEAN và các nước khác, tăng cường giao lưu nhân dân để xây dựng lòng tin. Thực tiễn cho thấy lòng tin là yếu tố cơ bản, là điều kiện tiên quyết để các quốc gia xích lại gần nhau và chung sức vượt qua thách thức.

Hai là, làm sâu sắc hơn mối quan hệ giữa các quốc gia thông qua liên kết kinh tế và thúc đẩy các FTA. Trong quan hệ giữa các quốc gia, lợi ích kinh tế là một nội dung cốt lõi, chính vì vậy, tăng cường hợp tác kinh tế chính là góp phần tạo ra môi trường hoà bình, ổn định trong khu vực.

Ba là, khuyến khích hợp tác về giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, ứng phó với biến đổi khí hậu, sử dụng chung nguồn nước, đảm bảo an ninh mạng, phát triển kinh tế, xóa nghèo. Điều này có ý nghĩa then chốt trong việc xây dựng một thế giới bình đẳng, hoà bình và phát triển.

Thực tiễn tại Châu Á cho phép chúng ta khẳng định: hợp tác và hội nhập là một đòi hỏi khách quan; đây cũng chính là phương cách tốt nhất để vượt qua thách thức và khai thác các tiềm năng phát triển của mỗi quốc gia, cùng xây dựng một Châu Á hòa bình, ổn định và phát triển, bởi vì lợi ích của mỗi quốc gia không thể tách rời khỏi lợi ích của các quốc gia khác; sự phát triển của mỗi nền kinh tế sẽ góp phần vào thịnh vượng chung của cả khu vực; thúc đẩy hợp tác kinh tế trên nhiều tầng nấc cũng chính là góp phần vào duy trì môi trường hòa bình và ổn định cần thiết cho mọi quốc gia.

Thời gian qua, các quốc gia Châu Á-Thái Bình Dương đã hợp tác sâu rộng và hiệu quả trong nhiều lĩnh vực và ở nhiều cấp độ khác nhau. Chúng ta đã đạt được những thành công, nhưng cũng nhận thức rằng thử thách phía trước còn nhiều. Để có thể tiếp tục tăng trưởng năng động, góp phần xây dựng một khu vực ổn định và thịnh vượng hơn nữa, trong thời gian tới chúng ta cần tăng cường hợp tác và liên kết trong 6 lĩnh vực sau:

Thứ nhất, tăng cường tự do hóa thương mại và đầu tư đi đôi với giảm thiểu rủi ro của đầu tư tài chính. Các nền kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương đã đi đầu trong việc thúc đẩy thực hiện tự do hóa thương mại và đầu tư. Tỷ trọng trung bình xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ của các nền kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương đều chiếm trên 21% GDP vào 2009 và tiếp tục tăng đều đặn qua từng năm. Trong trường hợp Việt Nam hiện nay lên tới 130% GDP. Tuy vậy, chúng ta vẫn cần xây dựng một hệ thống thống kê tài chính tin cậy hơn nhằm kịp thời cung cấp các số liệu thống kê về dòng vốn đầu tư tài chính tại mỗi nền kinh tế, làm cơ sở cho việc đánh giá sự rủi ro trên thị trường tài chính và xây dựng hệ thống giám sát tài chính trong khu vực và trên thế giới. Cho tới nay, thống kê quốc gia của tất cả các nước phát triển như Mỹ, Đức, Thụy Sỹ, Pháp, Anh, Canada, Nhật Bản, Singapore đều không có số liệu về đầu tư tài chính quốc tế ở nước mình.

Thứ hai, đảm bảo nguồn cung nhân lực cho các nước phát triển nhưng bị già hóa dân số và các nước đang phát triển thiếu nhân lực trình độ cao. Nhân lực đóng vai trò quan trọng, nếu không nói là quyết định, đối với tốc độ và chất lượng tăng trưởng của mọi nền kinh tế. Tại Châu Á-Thái Bình Dương, bên cạnh các nền kinh tế có nguồn nhân lực dồi dào, một số nền kinh tế khác có nhu cầu rất lớn về nhập khẩu lao động lành nghề và lao động có chuyên môn cao. Để có thể hỗ trợ lẫn nhau, chúng ta cần hình thành các cơ chế và quy định chung thúc đẩy hợp tác đào tạo nhân lực theo nhu cầu của các nước và tạo dòng chảy lao động có kiểm soát, có lợi cho các bên.

Thứ ba, đẩy mạnh phát triển dịch vụ vận chuyển hàng hóa. Giao thông vận tải là yếu tố có thể góp phần tích cực vào việc thúc đẩy trao đổi thương mại, đầu tư. Với tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình 5,6% vào năm 2012, chiếm 40% tỷ trọng kinh tế thế giới, Châu Á-Thái Bình Dương có nhu cầu rất lớn trong việc phát triển hệ thống dịch vụ vận tải hàng hóa một cách đồng bộ, từ quy hoạch hệ thống cảng biển cho tới đào tạo nhân lực và đảm bảo an ninh, an toàn hàng hải.

Thứ tư, phối hợp quản lý và khai thác bền vững nguồn nước, bao gồm cả các dòng sông. Châu Á là nơi có nhiều dòng sông lớn như sông Hằng, sông Mekong… Tuy vậy, gia tăng dân số, phát triển kinh tế, thay đổi cơ cấu sử dụng đất và biến đổi khí hậu đã khiến nguồn nước trở nên khan hiếm hơn bao giờ hết. Sự phân bố của tài nguyên nước thường không phụ thuộc vào biên giới quốc gia hay theo địa giới hành chính. Vì vậy, quản lý tài nguyên nước nhất thiết phải được thực hiện theo lưu vực sông; phải kết hợp chặt chẽ giữa khai thác, sử dụng, phát triển tài nguyên nước với việc bảo vệ môi trường. Hợp tác về nước sẽ giúp chúng ta giải quyết tốt hơn vấn đề xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm công bằng và an ninh xã hội, phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường.
Thứ năm, nỗ lực giảm thiểu ô nhiễm môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu đang diễn ra ngày càng gay gắt, đe dọa trực tiếp thành quả phát triển của tất cả các nền kinh tế. Nước biển dâng, hạn hán, ô nhiễm không khí, hiệu ứng nhà kính… đang đe dọa cuộc sống của người dân Châu Á, nơi mà các hoạt động nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế. Rõ ràng, nỗ lực của một quốc gia đơn lẻ là không đủ, hơn bao giờ hết, chúng ta cần tăng cường hợp tác, phối hợp nguồn lực để vượt qua thách thức này.

Thứ sáu, hợp tác bảo đảm an ninh mạng. Trong thời đại toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, việc khai thác, trao đổi thông tin giữa các cá nhân, tổ chức, quốc gia đã trở thành một nhu cầu cấp thiết. Tiếp cận được với nguồn thông tin đầy đủ và tin cậy có ý nghĩa sống còn đối với mọi quốc gia. Chúng ta cần khuyến khích các nước có trình độ phát triển cao hơn chuyển giao công nghệ và đào tạo nhân lực cho các nước có trình độ phát triển thấp hơn, tạo điều kiện cho các nước nghèo phát triển bền vững. Điều này có ý nghĩa then chốt trong việc xây dựng một thế giới bình đẳng, hoà bình và phát triển.

Có thể nói, hợp tác và liên kết có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với ổn định và phát triển của khu vực Châu Á. Để tăng cường liên kết và hội nhập một cách hiệu quả, bên cạnh việc nỗ lực xây dựng lòng tin, chúng ta cần có một cách tiếp cận mới, tổng thể hơn và tập trung hơn.

Các đại biểu quốc tế đánh giá cao bài phát biểu của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân.

Hiện tại Châu Á-Thái Bình Dương đã sẵn có nhiều diễn đàn, cơ chế hợp tác về các vấn đề được quan tâm chung như: Hội nghị Thượng đỉnh về nước khu vực Châu Á-Thái Bình Dương (APWS), các cơ chế hợp tác tiểu vùng Mê Công, hợp tác Mekong-Nhật Bản, Mekong-Hàn Quốc, Diễn đàn hàng hải ASEAN mở rộng (EAMF)… Đối với những cơ chế hợp tác sẵn có, chúng ta nên kiểm điểm lại tiến độ, và nếu có thể, đưa vào một khuôn khổ chung để tạo thuận lợi cho việc trao đổi thông tin, phối hợp nguồn lực. Đối với những lĩnh vực hợp tác mới, ta có thể cùng nghiên cứu, tạo ra một diễn đàn chung, nơi các quốc gia có thể chia sẻ thông tin, trao đổi kinh nghiệm và đề xuất sáng kiến.

Với nhận thức này, tôi xin nêu hướng ý tưởng hình thành 6 diễn đàn chuyên ngành khu vực Châu Á gồm:

1.    Diễn đàn Châu Á về hợp tác giảm thiểu ô nhiễm môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu;
2.    Diễn đàn Châu Á về hợp tác đảm bảo an ninh, tự do hàng hải và phát triển dịch vụ vận tải đường biển;
3.    Diễn đàn Châu Á về hợp tác bảo tồn và sử dụng hợp lý nguồn nước;
4.    Diễn đàn Châu Á về hợp tác đảm bảo an toàn không gian mạng;
5.    Diễn đàn Châu Á về hợp tác phát triển nhân lực và việc làm ở nước ngoài;
6.    Diễn đàn Châu Á về hợp tác đảm bảo minh bạch thị trường tài chính.

Mục tiêu của các diễn đàn nêu trên là nhằm rà soát, hỗ trợ các quốc gia thực hiện các luật lệ, quy định của Liên hợp quốc về các vấn đề liên quan; trao đổi thông tin về các kinh nghiệm và mô hình tốt; thiết lập cơ sở dữ liệu chung; thúc đẩy hợp tác nghiên cứu và tham gia xây dựng các luật lệ, quy định mới trong các lĩnh vực liên quan.

Trong số các diễn đàn này, có một số lĩnh vực Việt Nam cũng như nhiều nước trong và ngoài khu vực như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn Độ, Malaysia, Thái Lan, Nga, EU… đã có kinh nghiệm hợp tác. Tôi mong rằng các quốc gia này chia sẻ ý tưởng và sẽ sẵn sàng cùng chúng ta tăng cường hợp tác và liên kết vì hòa bình, ổn định và phát triển tại khu vực.

Tôi xin nhấn mạnh thêm về vấn đề an ninh, an toàn hàng hải. Là một thành viên có trách nhiệm của ASEAN và APEC, Việt Nam luôn sẵn sàng hợp tác chặt chẽ với các quốc gia trong khu vực trong lĩnh vực vận tải biển cũng như trên các vấn đề liên quan như cứu hộ, cứu nạn, an ninh, an toàn hàng hải.

Là một quốc gia ven biển, Việt Nam coi trọng việc phát huy các thế mạnh của biển phục vụ cho trao đổi thương mại trong và ngoài khu vực. Việt Nam đặt mục tiêu trở thành nền kinh tế mạnh về biển. Thực tế phát triển kinh tế của Việt Nam 20 năm qua cho thấy, để đạt được 7% tăng trưởng GDP sẽ cần tăng lượng hàng hóa vận tải bằng đường biển và năng lực các cảng biển thêm 15%.

Trong khuôn khổ Diễn đàn Châu Á về hợp tác phát triển dịch vụ vận tải đường biển, an ninh và tự do hàng hải, Việt Nam xin đề xuất các nước trong khu vực cùng nghiên cứu, thiết lập một cơ chế đối thoại thường niên, thực chất và cởi mở về kế hoạch phát triển dịch vụ trên biển, an ninh, an toàn hàng hải, chống hải tặc, cứu hộ, cứu nạn và chia sẻ thông tin cảnh báo thiên tai trên biển. Mục tiêu chính của cơ chế này là tăng cường hiểu biết, thúc đẩy đối thoại và hợp tác giữa chính phủ, doanh nghiệp và học giả nhằm tìm ra những biện pháp hữu hiệu, góp phần đảm bảo an ninh và an toàn hàng hải trên các vùng biển của châu Á.

Thưa Quý vị đại biểu,

Nhật Bản là đối tác kinh tế quan trọng hàng đầu của Việt Nam: là nước cung cấp viện trợ phát triển chính thức (ODA) lớn nhất, là nhà đầu tư số một, đồng thời là đối tác thương mại song phương lớn thứ ba của Việt Nam. Năm 2012, ODA Nhật Bản dành cho Việt Nam chiếm 30% tổng cam kết viện trợ của các nước cho Việt Nam. Nhiều công trình, dự án sử dụng vốn ODA của Nhật Bản trong lĩnh vực năng lượng, giao thông vận tải, nông nghiệp và phát triển nông thôn, hạ tầng đô thị… đã được hoàn thành và đưa vào sử dụng, góp phần tích cực cho sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội của Việt Nam.

Về đầu tư, tính đến nay, Nhật Bản có 1.900 dự án đầu tư trực tiếp còn hiệu lực tại Việt Nam với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 31 tỷ USD. Riêng trong 3 tháng đầu năm 2013, Nhật Bản đã có 50 dự án đầu tư tại Việt Nam với tổng số vốn đăng ký khoảng 3,1 tỷ USD (chiếm 52,3% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam).

Kể từ khi thiết lập quan hệ đối tác chiến lược vào năm 2009, quan hệ giữa hai nước không ngừng phát triển cả về bề rộng lẫn chiều sâu, hợp tác trên các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, quốc phòng, an ninh đều được tăng cường và có bước phát triển mới. Giữa hai nước đã hình thành nhiều cơ chế giao lưu thường xuyên giữa Chính phủ, nhân dân và doanh nghiệp trên mọi cấp độ. Hai nước cũng thường xuyên trao đổi, phối hợp với nhau trong các khuôn khổ hợp tác khu vực như Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Hợp tác tiểu vùng Mekong mở rộng (GMS), Hợp tác bốn nước Camphuchia-Lào-Myanmar-Việt Nam (CLMV).

Có thể nói, mối quan hệ hợp tác Việt Nam-Nhật Bản được xây dựng trên một nền tảng vững chắc là sự hiểu biết, tin cậy và hữu nghị, đáp ứng đúng nguyện vọng và lợi ích chung của nhân dân hai nước, đồng thời góp phần vào hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển của khu vực và trên thế giới.

Năm 2013 được chọn là Năm Hữu nghị Việt-Nhật; 2013 cũng đánh dấu chặng đường 40 năm hợp tác và hữu nghị ASEAN-Nhật Bản. Quy mô và mức độ sâu rộng trong quan hệ hợp tác giữa chúng ta cho thấy ý nghĩa và tầm quan trọng của hợp tác, liên kết và hội nhập. Chỉ có thông qua hợp tác và hội nhập chúng ta mới có thể tìm ra giải pháp cho các thách thức trước mắt, cùng nhau xây dựng một khu vực Châu Á ổn định, thịnh vượng và phát triển. Đó cũng chính là lý do chúng ta có mặt tại Hội nghị ngày hôm nay.

Chúc Quý vị đại biểu và các bạn sức khỏe và hạnh phúc.
Chúc Hội nghị thành công tốt đẹp.
Cảm ơn các Quý vị.

Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về banbientap@nguyentandung.org
Thích và chia sẻ bài này trên